Keep the memories

clip_image001[11] 

 



 

1.      Lý do chọn đề tài

Chúng ta không thể phủ nhận một điều là ngày nay những người dù ở bất kỳ một tôn giáo nào trên đất nước việt chúng ta đều không ít nhiều hiểu biết về những lẽ sống căn bản nhấn, nhân bản nhất của một con người là tình yêu thương giữa người và người, giữa con người và thiên nhiên, đó là những lẽ sống thường nhật nhưng bắt nguồn sâu xa hơn trong tâm linh mỗi chúng ta đều có một niềm tin về cái “Chân Thiện Mỹ”, cái tâm của mỗi con người, ai trong chúng ta chưa từng nghe câu “ở hiền gặp lành” hoặc những câu đại loại như vậy?

Có thể nói nguồn gốc xuất xứ xa xôi của nó có ít nhiều liên quan đến những triết lý nhà phật, và nói một cách nôm na là trong hầu hết công dân nước việt, triết phật ít nhiều có ở trong tâm mỗi con người, nhưng vì đâu mà có những căn nguyên như vậy? phật giáo hay sâu xa hơn là triết phật có điều gì mà làm lòng dân dễ thuần phục như vậy? đâu là khởi nguồn? đâu là tác nhân và những khích lệ để dân việt có thể tiếp nhận triết lý ấy làm lẽ sống thường nhât? Bất kỳ một triết lý nói chung nào hay triết phật nói riêng, muốn thâm nhập vào trong tâm hồn của một nền văn hóa khác, chúng ít nhiều phải có sự đồng cảm của người lãnh nhận và phải có sự “xúc tác” thì nó mới phát triển “thịnh đạt” như vậy được, sự xúc tác đó cũng chính là cái đòn bẩy để triết phật phát triển đến đỉnh cao của nó tại việt nam, đó là sự đồng thuận đến mức hậu thuẫn của đương triều và tất nhiên sự phát triển thịnh đạt đó nằm ở triều Lý, Trần của việt nam trong lịch sử,

Vậy vì đâu mà có được những duyên cơ như vậy? chúng ta hãy cũng tìm hiểu và đó cũng là lý do để đề tài này ra đời, nó trả lời được câu hỏi vì sao triết phật lại thịnh đạt vào thời kỳ đó, thời Lý – Trần.

2.      Lịch sử vấn đề

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến triết phật nói chung, từng thời kỳ trong đó có thời lý – trần nói riêng như:

·        Trương Văn Chung: Tư tưởng triết học của thiền phái Trúc Lâm đời Trần. NXB chính trị quốc gia, H.1998

·        Đỗ Thanh Dương: Trần Nhân Tông – Nhân cách văn hoá lỗi lạc. NXB ĐHQG HN, H. 2003

·        Nhiều tác giả: Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý – Trần. NXB KHXH, H.1981

·        Nhiều tác giả: Thiền học thời Trần. NXB Tôn giáo, 2003.

·        Nhiều tác giả: Trần Nhân Tông – Vị vua Phật Việt Nam. NXB Tổng hợp TP. HCM, 2004

·        Nguyễn Phạm Hùng: Văn học Lý – Trần nhìn từ thể loại. NXB GD, H.1996.

·        Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận. NXB Văn học, H.2000

·        Nguyễn Tài Thư (Chủ Biên): Lịch sử Phật giáo Việt Nam. NXB KHXH, H. 1998

·        Nguyễn Huệ Chi: Hiện tượng hội nhập văn hoá dưới thời Lý – Trần nhìn từ trung tâm Phật giáo tiêu biểu: Quỳnh Lâm. TCVH, số 4, 1992

·        Minh Chi: Góp phần tổng kết Phật giáo đời Trần. TCVH số 4, 1992

·        Tầm Vu: Tìm hiểu đặc điểm của tư tưởng Phật giáo Việt Nam trong thời đại Lý Trần qua tác phẩm văn học. TCVH, Số 2, H.1972

Và còn rất nhiều công trình khác không thể liệt kê ra đây, nhưng có lẽ mỗi công trình đều có những mặt chung – riêng, hạn chế khác nhau mà chúng ta không thể so sánh. Tiểu luận này cũng chỉ là một phần nhỏ nhằm góp phần chút ít cho những kho kiến thức về triết phật hiện đang có, còn rất nhiều vấn đề “không thể” đề cập đến vì qui mô cũng như  phạm vi công trình.

3.      Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu về nguồn gốc cực thịnh của triết phật sẽ lý giải được cái “nguồn gốc tâm việt”, có nghĩa là tâm hồn những công dân việt nói chung, những người biết và tin vào phật nói riêng đều có một cái “tâm” chung đó là “hướng thiện”, trở về qui luật của tạo hóa, cái bánh xe luân hồi, và từ đó chúng ta có cái chỗ nương tựa cho cho tâm hồn vững chắc, và từ đó chúng ta sống tốt hơn. Và tài liệu nhỏ bé này cũng làm phong phú hơn nữa cho những công trình nghiên cứu về phật giáo sau này.

4.      Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính ở đây là triết phật, phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian là việt nam trong thời kỳ nhà Lý nắm quyền là chính, và thời nhà trần nhằm bổ xung cho tài liệu toàn vẹn hon, có cái nhìn chung nhất hơn.

5.      Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Đã có rất nhiều câu hỏi “tại sao” liên quan đến thời kỳ thịnh đạt của triết phật trên quê hương việt nam thời Lý – Trần, và dù cũng đã có rất nhiều câu trả lời cho những câu hỏi đó nhưng hình như vẫn còn chưa đủ vì những ảnh hưởng cho giá trị văn hóa và lịch sử của triết phật ảnh hưởng đến giai đoạn này của việt nam là rất lớn và từ đến nay dù lịch sử có những bước thăng trầm nhưng những giá trị nó mang lại là không thể phủ nhận và rất có ý nghĩa nếu chúng ta tìm hiểu được nguồn gốc sâu xa hơn nữa của những phát triển hưng thịnh này, tài liệu này góp phần thêm vào những công trình nghiên cứu liên quan đến phật giáo nói chung và triết phật nói riêng

6.      Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Phần lớn tiểu luận này được dựa trên những công trình nghiên cứu của các vị giáo sư, tiến sĩ hàng đầu việt nam tại các trường đại học, các học viện chính trị, triết học, các khoa

7. Bố cục đề tài



Triết Phật thời Lý, Giá trị văn hóa và ý nghĩa lịch sử

Trong tiến trình phát triển của loài người, Ấn Độ được biết đến không chỉ là một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại, của Đạo Phật, mà đó còn là tư tưởng, triết lý về thế giới quan, nhân sinh quan trong thế giới cổ đại Ấn Độ.

Trong tiến trình phát triển của loài người, Ấn Độ được biết đến không chỉ là một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại, mà đó còn là nơi xuất của phật giáo, là tư tưởng, triết lý về thế giới quan, nhân sinh quan trong thế giới cổ đại Ấn Độ.

Tư tưởng, triết lý ra đời từ mấy nghìn năm trước đó đến nay vẫn còn có ảnh hưởng sâu rộng ở các dân tộc Á Đông, trong đó có Việt Nam.

Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI trước công nguyên, ở miền Bắc Ấn Độ, phía Nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nêpan bây giờ.

Phật giáo được ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, có thể nói rằng, ngay từ lúc mới ra đời, đạo Phật với triết lý đạo đức nhân sinh sâu sắc đã trở thành một trong những ngọn cờ trong phong trào đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội Ấn Độ đương thời.

Quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam được chia làm 3 thời kỳ chính: Thời kỳ từ đầu công nguyên; Thời kỳ độc lập tự chủ (938) qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến triều nguyễn; Thời kỳ Pháp thuộc và sau 1954.

Ở thời kỳ đầu công nguyên: Phật giáo được xác định là du nhập vào nước ta thế kỷ II-SCN bằng đường biển và đường bộ từ Ấn Độ và Trung Quốc tại Giao Chỉ và Chăm Pa; Trước nhà Đường xuất hiện dòng thiền đầu tiên là Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi (do ngài Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi người Ấn Độ sáng lập) ở nhà nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế, với tư tưởng thiền là “Tức tâm tức phật”; Thời nhà Đường xuất hiện dòng thiền thứ hai là Vô Ngôn Thông (do ngài Vô Ngôn Thông người Trung Quốc sáng lập), Với tư tưởng “Tức tâm tức phật” và có bổ sung phần y báo đức Phật trong tâm. Điểm nổi bật của dòng thiền này là sự xuất hiện hình thức Cư sĩ-Thiền sư.

Ở thời kỳ độc lập tự chủ, trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến triều Nguyễn: Nhà Đinh và Tiền Lê đã đưa Phật giáo lên thành quốc giáo với chức tăng thống và thiền sư có vai trò cố vấn cho các nhà vua; Thời nhà Lý, Phật giáo phát triển cực thịnh, là quốc đạo và xuất hiện dòng thiền thứ ba là Thảo Đường (do ngài Thảo Đường người Trung Quốc sáng lập).

Điểm nổi bật của dòng thiền này là vai trò của giới cư sĩ được khẳng định một cách chính thức. Giai đoạn này có sự hiện diện của cả 3 dòng thiền và Phật giáo có xu hướng nhập thế mạnh mẽ; Nhà Trần là triều đại của Phật giáo với vai trò nổi bật của Trần Nhân Tông-Người sáng lập ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Tư tưởng của dòng thiền này là phát triển đỉnh cao quan niêm “Tức tâm tức phật”; Thời Hậu Lê Phật giáo chính thức bước vào thời kỳ suy thoái với nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là do Hồ Quý Ly ra sức phát triển Nho giáo vào cuối thế kỷ XIV và nhà Minh xâm lược Đại Việt vào đầu thế kỷ XV; Sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê thì nước ta chia cắt thành xứ đàng trong (vua Lê-chúa Trịnh) và đàng ngoài (chúa Nguyễn).

Xứ đàng trong Phật giáo phát triển mạnh trên cơ sở một nền học lý mới nhờ vai trò của chúa Nguyễn Phúc Chu (được ví là Trần Nhân Tông thứ hai trong lịch sử Phật giáo), nền học lý mới đó là dòng Tào Động, dòng Lâm Tế. Xứ đàng ngoài ảnh hưởng mạnh mẽ dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Khi Gia Long lên ngôi vào đầu thế kỷ XVIII, xã hội Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng tư tưởng trầm trọng, đất nước rơi vào họa ngoại xâm, phật tử và nhân dân tự đứng dậy khởi nghĩa.

Ở thời kỳ Pháp thuộc và sau năm 1954: Thời Pháp thuộc, Thiên Chúa giáo được hậu thuẫn và Phật giáo bị khủng bố, đàn áp gắt gao vì thế Phật giáo giai đoạn này có xu hướng nhập thế và chấn hưng mạnh mẽ; Sau 1954, trên cả hai miền Nam Bắc, Phật giáo đều chưa có cơ hội để phát triển, nhưng sau 1990 nhờ chính sách tự do tôn giáo của Đảng và nhà nước, Phật giáo có điều kiện phát triển mạnh mẽ và dần lấy lại vị thế của mình.

Có thể nói rằng, trong hơn 20 thế kỷ qua, Phật giáo đã có một vai trò, vị trí quan trọng nhất định trong lịch sử dân tộc, nhất là Phật giáo Lý – Trần đã thể hiện trí tuệ và từ bi sâu sắc bằng sự nhập thế sinh động và đa dạng qua tư tưởng, lời nói, hành động gắn bó với cuộc sống an vui hạnh phúc của dân tộc. Cả hai triều đại Lý–Trần, Phật giáo đã trở thành quốc giáo.

Thâm nhập giáo lý nhà Phật qua chính sách an dân trị nước nên các vua Lý – Trần đã chinh phục trái tim, khối óc con người bằng đức trị thay pháp trị. Đạo đức vô ngã đã tạo cho con người một cuộc sống hòa hợp, giản dị nhưng tạo lực tác động mạnh mẽ vô cùng.

Vì thế cả hai triều đại Lý – Trần đều tồn tại khá lâu. Triều Lý hơn 200 năm (1010 – 1225) và Triều Trần gần 200 năm (1226 – 1400). Có thể nói đây là thời đại cực thịnh của Phật giáo Việt Nam mà cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà. Các vua thời đại Lý – Trần được thừa hưởng những thành qủa tốt đẹp của thế hệ trước, đồng thời biết phát huy những tinh hoa gạn lọc được từ bên ngoài biến thể sao cho phù hợp với quốc dân thủy thổ mà không đánh mất bản sắc dân tộc. 

Nhà Lý mở đầu là Lý Công Uẩn vào năm 1010 và kéo dài cho đến năm 1225, kết thúc ở đời thứ chín là Lý Chiêu Hoàng. Triều đại nhà Lý tồn tại khoảng 215 năm, với khoảng thời gian ấy đã tạo ra được bề dày lịch sử của một quốc gia phong kiến độc lập có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê do phải tiến hành những công việc như: bảo vệ đất nước, củng cố quốc gia sau thời gian Bắc thuộc hàng ngàn năm nên chưa có điều kiện để quan tâm phát triển văn hóa, tư tưởng… Đến nhà Lý đã từng bước chủ động, tích cực xây dựng và phát triển diện mạo văn hóa, tư tưởng với một quốc gia phong kiến độc lập.

Nếu như Nho giáo là công cụ của đội quân xâm lược nên không nhận được cảm tình của dân tộc ta thì Phật giáo lại khác hơn, Phật giáo được dân tộc ta tiếp nhận một cách hòa bình, tự giác trên tinh thần thân thiện, cởi mở, vì vậy Phật giáo sớm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và cả lĩnh vực chính trị từ thời Ngô, Đinh, tiền Lê, Lý, Trần…

Những vấn đề về quản lý xã hội, những phạm trù đạo đức của xã hội, của cá nhân nhằm duy trì trật tự xã hội của Nho giáo đã đáp ứng nhu cầu ổn định xã hội của triều đình phong kiến.

Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, nhu cầu về sự kiến giải vấn đề sống-chết, may-rủi, họa-phúc, vấn đề tâm linh của con người… thì Nho giáo không thể đáp ứng được.

Cho nên với nội dung tư tưởng của mình Phật giáo đã đáp ứng được nhu cầu đó. Trước khi Nho giáo chưa được nhà Lý chủ động sử dụng thì Phật giáo đã có ưu thế trong xã hội. Nhà chùa với nước phong kiến có quan hệ khá mật thiết, nhà chùa cung cấp cho nhà vua những trí thức Phật giáo để phục vụ chính trị, đặc biệt là trong công việc bang giao với nước khác.

Các nhà sư đều được nhà vua trọng dụng, hỏi ý kiến trong việc kiến thiết, xây dựng, củng cố, phát triển đất nước, thậm chí kể cả công việc đánh giặc để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia dân tộc.

Từ thế kỷ XI cho đến khoảng hết thời nhà Lý, Phật giáo ảnh hưởng khá sâu sắc trong đời sống xã hội nước ta, trước hết là người lập nên nhà Lý là vua Lý Công Uẩn có lý lịch xuất thân từ nhà chùa và các nhà sư là những người hậu thuẫn cho sự lên ngôi của Hoàng đế Lý Công Uẩn.

Sau đó là hàng loạt các nhà vua đi tu như Lý Thánh Tông là đời thứ nhất của phái Thảo Đường, Lý Anh Tông là đời thứ ba của phái Thảo Đường, Lý Cao Tông là đời thứ năm của phái Thảo Đường, Lý Huệ Tông. Nhìn chung, tư tưởng Phật giáo thời kỳ này ảnh hưởng rất lớn không chỉ trong đời sống tinh thần của xã hội mà đến cả tình hình chính trị của dân tộc.

Tư tưởng Phật giáo thời kỳ này chủ yếu là các dòng Thiền tông như dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, dòng Vô Ngôn Thông, dòng Thảo Điền. Nhìn chung tư tưởng Phật giáo vào Việt Nam mang xu hướng nhập thế, các nhà vua đi tu nhưng vẫn luôn hướng về những vấn đề hưng vong, thịnh suy của dân tộc.

Các nhà vua đi tu, một mặt tìm sự giải thoát tinh thần, mặt khác lại quan tâm đến nhân tình thế thái, mong sự giải thoát cho nhân dân khỏi sự khổ ở đời.

Tư tưởng Phật giáo thời Lý mặc dù vẫn tôn trọng những tư tưởng Phật giáo nguyên thủy của Ấn Độ, nhưng không tách biệt đời với đạo như Phật giáo Ấn Độ, mà ngược lại gắn đạo với đời. Trong tư tưởng Phật giáo ở giai đoạn này, quan niệm sự khổ không nặng nề, bi quan, yếm thế như Phật giáo nguyên thủy.

Người ta có thể tìm thấy chuyện trai gái lên chùa mượn chiếu, mượn ấm trà để tình tự với nhau như lẽ sống thường tình. Cũng trong thời kỳ này, cùng với nền giáo dục Nho học, nhà chùa cũng trở thành nhà trường, nhà sư cũng chính là nhà giáo dục, trong môi trường ấy đã tạo ra những trí thức Phật giáo và chính họ là những nhà truyền bá tư tưởng đạo Phật trong nhân dân, cung cấp những hiểu biết về đời sống tâm linh, tinh thần ở các khía cạnh Nho giáo chưa đề cập đến.

Có thể nói rằng, Phật giáo Việt Nam giai đoạn thời Lý đã đóng một vai trò khá quan trọng trong nền giáo dục thời Lý và góp phần đào tạo ra những nhà lãnh đạo song toàn, điều này chứng tỏ nền giáo dục Việt Nam và Phật giáo Việt Nam giai đoạn thời Lý đã thể hiện chức năng đào tạo hiệu quả, sản sinh ra những nhà trí thức có khả năng gánh vác không chỉ việc đạo mà còn cả việc nước, việc dân như: Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thái Tổ… và xét trên bình diện xã hội, Phật giáo còn giáo dục con người trước sau như một, trung thành với nước, với dân.

Đến thời Lý, nền văn hóa nước ta đã có bề dày hơn 3000 năm, trong đó, sự xuất hiện của Phật giáo là khoảng 100 năm. Nền văn hóa thời Lý tuy vẫn chịu ảnh hưởng của ngàn năm Bắc thuộc nhưng cũng đã dần khẳng định tính tự tôn của nước Đại Việt mà sự đóng góp của Phật giáo là rất rõ nét, thể hiện qua những giá trị vật thể và phi vật thể, chính điều đó đã làm phong phú thêm cho nền văn hóa dân tộc.

Phật giáo thời Lý đã để lại những công trình văn hóa tín ngưỡng có giá trị cho dân tộc, điển hình là bốn công trình lớn là “An Nam tứ đại khí” (bốn nguyên khí trấn giữ nền độc lập của nước Nam). Trong đó: Một là: Tháp Báo Thiên, “bảo tháp Đại thắng Tự Thiên cao vài chục trượng” [1, 272] được xây dựng vào năm 1057 ở chùa Sùng Khánh.

Tháp này cao mười hai tầng, mỗi viên gạch đều khắc niên hiệu Long Thụy Thái Bình. Nhưng đến thời Hồ, ngọn tháp này đã đổ. Đến năm 1427, Lê Lợi làm cái đồn canh gác trên tháp để quan sát giặc.

Đến thời “quân xâm lược Pháp chiếm đóng Hà Nội đã bị cha cố đạo Puginier làm đơn cưỡng chiếm, lấy đất làm ngôi nhà thờ lớn Hà Nội tồn tại cho đến ngày nay. Dù thế, chùa tháp Báo Thiên từng một thời là biểu tượng của sức mạnh Đại Việt” [3, 36]. Hai là: Tượng Quỳnh Lâm được đúc bằng đồng ở chùa Quỳnh Lâm, Ba là: Chùa Phổ Minh ở Nam Định, Bốn là: Chuông Quy Điền (nghĩa là chuông không kêu, nên đặt xuống ruộng), đúc năm 1080 ở chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) [1, 280].

Ngoài bốn công trình trên, nhà Lý còn để lại những di tích mà hiện nay vẫn còn như Quán Trấn Vũ (1102) [1, 284], đền Hai Bà… và nhiều cung điện ở Thăng Long, những nơi này không những là địa điểm sinh hoạt văn hóa, giáo dục của mọi tầng lớp nhân dân mà còn thể hiện giá trị về mặt kiến trúc, mang triết lý sâu sắc mà bình dị thể hiện được tính dân tộc của Phật giáo.

Bản sắc văn hóa là nguồn gốc, là sức mạnh tinh thần vô hình tác động rất mạnh cho mọi sự phát triển, đó cũng là nét đặc thù của dân tộc.

Văn hóa Phật giáo là một bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa dân tộc, chính vì vậy, việc củng cố và phát huy vài trò của Phật giáo có một ý nghĩa lớn đối với cuộc vận động “toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” hiện nay.

Vì rằng, đối với tất cả người dân Việt Nam, dù có theo Phật giáo hay không đều ít nhiều hiểu tư tưởng của như triết lý nhà Phật, bởi vì đó là một phần truyền thống của cha ông, sẽ là bất khả nếu muốn nghiên cứu văn hóa Việt Nam mà không nói đến Phật giáo và ngược lại.

Hiện nay Phật giáo vẫn còn là một tác nhân tác động mạnh trong xã hội. Chúng ta dễ nhận thấy Phật giáo đã mang đến cho người Việt những ngôi chùa cổ kính, những pho tượng bề thế rải khắp xóm làng làm tăng lòng từ bi và hướng thiện của người bình dân.

Phật giáo đã đưa đến một trung tâm văn hoá làng một thời sôi động. Phật giáo cũng đã mang đến trong tâm hồn người Việt một đời sống tâm linh sâu đậm từ khi du nhập cho đến nay. Trong lịch sử, Phật giáo cũng luôn gắn liền với vận mệnh của dân tộc, giai đoạn thời Lý, ông cha ta đã nhận thức được tầm quan trọng của một nền văn hóa độc lập tự chủ, vì văn hóa là linh hồn của dân tộc.

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển về văn hóa truyền thống và có nhiều chính sách nhằm bảo vệ và phát huy những giá trị đó, tầm quan trọng của văn hóa cũng được Đảng và Nhà nước ta nhìn nhận: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội” [2, 110] và đề ra chủ trương “xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

Đây là một chủ trương kịp thời và đúng đắn, và Phật giáo với những giá trị của mình sẽ góp phần thực hiện nhiệm vụ này, sẽ là quá muộn nếu chúng ta không có những nhận thức đúng đắn và đầy đủ về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa quá khứ và hiện tại, cũng như không nắm vững qui luật phát triển văn hóa – xã hội ở từng thời kỳ, chính vì vậy, việc phát huy bản sắc dân tộc phải được xem là nhiệm vụ của mỗi cá nhân, gia đình và của toàn xã hội.

Năm 2010, nước ta sẽ tổ chức đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đây là hoạt động vừa hướng về nguồn cội thiêng liêng của dân tộc, nhưng đồng thời cũng là sự kiện lớn, có ý nghĩa quan trọng liên quan đến nỗ lực bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đối với việc xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, t.1,2.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

3. Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam từ Lý Thánh Tông (1054) đến Trần Thánh Tông (1278), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, t.3.



Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo thời Lý

Phật giáo thời Lý có vị trí, vai trò trong cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội. Phật giáo tham gia vào nhiều công việc tổ chức của xã hội: hoạt động tôn giáo tính ngưỡng trong làng xã, xây chùa, dựng tháp, tô tượng, đúc chuông; tham gia và giữ vị trí chủ đạo trong hoạt động chính trị, giáo dục, xây dựng các chuẩn mực đạo đức xã hội.

Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng Đế, đặc niên hiệu là Thuận Thiên, khởi nghiệp nhà Lý. Khoảng thời gian 216 năm trị vì của triều đại nhà Lý, nền quân chủ Đại Việt dần hoàn thiện và phát triển. nhà Lý đã thực hiện hàng loạt các chủ trương, chính sách và biện pháp tích cực nhằm thự chiện nhiệm vụ Độc lập dân tộc và Thống nhất quốc gia, phát triển nền văn minh Đại Việt. Xã hội Đại Việt dưới triều Lý phát triển về mọi mặt: cơ cấu nhà nước được thiết lập theo lối chính quy với mô hình nhà nước trung ương tập quyền, pháp luật được coi trọng, giáo dục văn hoá được mở mang, quân đội được củng cố, tư tưởng triết học và tôn giáo đặc biệt là Phật giáo.

Phật giáo thời Lý có vị trí, vai trò trong cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội. Phật giáo tham gia vào nhiều công việc tổ chức của xã hội: hoạt động tôn giáo tính ngưỡng trong làng xã, xây chùa, dựng tháp, tô tượng, đúc chuông; tham gia và giữ vị trí chủ đạo trong hoạt động chính trị, giáo dục, xây dựng các chuẩn mực đạo đức xã hội. Các chùa, tháp, tô tượng, đúc chuông, dịch kinh, phát triển đội ngũ sư tăng… để tỏ lòng sùng kính Phật.

Phật giáo thời Lý phát triển mạnh các dòng thiền. Hai phái thiền Lưu Chi và Vô Ngôn Thông từ thời Bắc thuộc, tiếp tục được phát triển. Thời Lý hình thành dòng thiền Thảo Đường.

Thiền Lưu Chi phát triển ở thời Lý từ thế hệ 11 đến thế hệ 19 với các thiền sư lưu danh sử sách: Vạn Hạnh (938-1025), Đạo Hạnh (?-1115), Viên Thông (?-1151)…

Thiền Vô Ngôn Thông thời Lý từ thê 1hệ thứ 5 đến thế hệ thứ 17. Các thiền sư nổi tiếng của dòng thiền này: Khuông Việt (933-1011), Đa Bảo, Viên Chiếu, Lý Thái Tông (1000-1054)…

Thiền Thảo Đường thời Lý phát triển được 6 thế hệ. Trong sách Thiền Uyển Tập Anh có ghi tên 19 người, trong số đó: Lý Thánh Tông, Không Lộ, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông…

Tư tưởng của các phái thiền có một chiều sâu triết lý, tâm linh, đạo đức. Thiền Lưu Chi ảnh hưởng tư tưởng Bát Nhã. Khi thiền định hành giả phải làm cho trí huệ bát nhã bừng sáng mới có thể nhập được các pháp. Để đạt được mụch đích đó, kinh dạy về pháp thiền quán trong ngoài để phá trừ kiến chấp, Kinh mang tính văn hệ Bát Nhã nên bản chất của giác ngộ vượt ngoài phạm vi ngôn ngữ, văn tự, siêu việt hữu vô. Tư tưởng của phái thiền này còn tiếp thu cả tư tưởng sẫm vĩ, phong thuỷ. Thiền Vô Ngôn Thông nhấn mạnh thuey61t đốn ngộ tâm địa, chù trương con người có thể trong một giấy lát đạt được quả vị giác ngộ, không cần phải tiệm tiến. Sự giác ngộ là do tự tính thực hành, do sử dụng phương pháp thoại đầu để phát khởi sự đạt ngộ nơi tâm tư. Thiền Vô Ngôn Thông còn chịu ảnh hưởng của Mật Tông sử dụng các thế lực siêu nhiên để mau chóng gáic ngộ, ảnh hưởng của Tịnh Độ tông chủ trương niệm Phật để đạt tới nhứt tâm bất loạn, vãng sinh vào thế giới cực lạc của phật A Di Đà. Chủ trương của thiền Thảo Đường là thống nhất tư tưởng và tông phái phật giáo cùng với Nho và Đạo, thiên về chú trọng tri thức và văn chương, nên không lan toả được trong đại chúng mà chỉ ảnh hưởng được trong giới quý tộc, trí thức. Tư tưởng triết lý của các phái thiền và hoạt động truyền giáo, hoạt động xã hội của các thiền sư ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chính trị, văn hoá xã hội thời Lý. Để có được những thành tựu đáng kể, tư tưởng Phật giáo thời Lý đã có những đặc trưng như khả năng dung thông linh hoạt, tính nhập thế sâu sắc. Tuy nhiê, sức sống, sức mạnh của Phật giáo là ở triết lý. Phật giáo thời Lý đóng góp vào văn hiến Đại Việt không chỉ ở vai trò với thức tiễn xã hội mà còn ở vai trò xây dựng nền triết học Phật giáo.

Quan niệm về thế giới của các thiền sư thời Lý

Thiền tông chủ trương vạn vật nhất thể nhưng biến hoá khôn lường dưới các dạng khác nhau. Những dạng này luôn luôn thay đồi gọi là pháp tướng vô thường. Thế giới, con người cũng như muôn loài luôn thay đổi, không dễ gì nắm bắt được. Vạn vật tuy sắc thân, sắc tướng không còn nhưng bản thể qua pháp tướng vô thường vẫn còn, không hề mất, có thể tìm thấy ở khắp nơi. Một đã thành Vạn trong trời đất núi non. Khoảng cách không gian, thời gian gần mà xa, xa mà gần.

Vòng tuần hoàn của vũ trụ: xuân, hạ, thu, đông được các thiền sư thể hiện như nguồn sốngbất diệt; xuân sinh, hạ trưởng, thu liễn, đồng tàn, vạn vật sinh-trụ-dị-diệt vô thỷ vô chung. Lý vô thỷ vô chung là lý để từ đó có thể đồng nhất thể vũ trụ.

Vô ngã, vô thường

Triết lý vô thường, vô ngã cũa Phật giáo từ thời nguyên thuỷ được các thiền sư thời Lý biểu đạt bằng những hình ảnh của tự nhiên và con người. Thiền sư Mãn Giác (1052-1096):

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

(Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết, đêm qua một nhành mai đã nở trước sân)

Thiền sư đã giác ngộ được cảnh vô thường của vạn vật, thân người như bóng chớp, vô ngã và vô thường như vạn vật. Từ đó, các thiền sư chủ trương an nhiên tự tại sống, thoát khỏi sắc dục, sống “mình vì mọi người”, xả hỷ lợi tha cao thượng.

Sắc – Không

Giáo sắc không của các thiền sư thời Lý được thể hiện qua các phạm trù “có – không”, “còn – mất”, “sống – chết”. Lịch sử đã ghi danh các thiền sư cống hiến trí tuệ và cuộc đời mình cho đạo pháp, dân tộc. Trước tác các vị để lại đã phần nào giải thích cho chúng sinh quá trình gíc ngộ của mình, giải thích lý sắc – không theo phong cách nghệ thuật độc đáo:

Thiền sư Đạo Hạnh (1072-1116) đã viết:

Tác hữu trần sa hữu

Vị không nhất thiết không

Hữu, không như thuỷ nguyệt

Vật trước hữu không không

Trong thế giới nếu có thì trời đất cho đến hạt cát đều là có. Nhưng con mắt trí tuệ soi chân tướng các pháp, nhận thấy có chỉ là ảo giả, hợp rồi tan.

Thiền sư Huệ Sinh (?-1063) trả lời Lý Thái Tông về tâm nguyện:

Pháp bản như vô pháp,

Phi hữu diệc phi không

Nhược nhân tri thử pháp,

Chúng sanh dữ Phật đồng

Tịch tịch lăng già nguyệt

Không không độ hải chu.

Tri không, không giác hữu

Tam muội nhậm thông chu

Thực tướng có và không của các pháp giống nhau. Người nào không rõ cũng như người mơ màng không nhận ra được thế nào là có và thế nào là không. Người giác ngộ nhận ra thì được coi là đồng với Phật.

Linh Nhân hoàng thái hậu (Lê Thị Ỷ Lan, 1044-1117) có bài kệ bàn về sắc – không:

Sắc thị không, không tức sắc,

Không thị sắc, sắc tức không

Sắc, không câu bất quản,

Phương đắc kế chân tông

(Sắc là không, không tức sắc

Không là sắc, sắc tức không

Sắc không đều chẳng quản

Mới khế hợp chân tông).

Các thiền sư thời Lý coi bản thể của thế giới thường còn bất sinh, bất diệt, như như bất động nhưng nó lại tuỳ duyên mà biến ra mọi nơi, mọi vật.

Sự vật thiên hình vạn trạng, các pháp, là một dạng của thế giới bản thể. Các thiền sư thường ca ngợi cảnh trăm hoa đua nở, chim hót chào xuân, giọt sương trên đầu ngọn cỏ, cành mai nở trong đêm xuân, trăng lặng soi bóng thuyền,… vừa là những cảnh vật của đời thường, mà cũng là hình tượng thể hiện bản thể. Các thiền sư đồng thời là thi sĩ đã hoà tan cảm xúc của mình với thiên nhiên, đất nước và con người. Họ đã diễn tả được những khái niệ, phạm trù triết họcrất trừu tượng chỉ trong những câu thơ, câu kệ rất ngắn.

Chúng sinh bị vô minh che lấp không nhận thức được bản thể nên coi thế giới hiện tượng là có thật, do nghiệp nên nhìn thế giới thành một thế giới đầy phiền não. Do vậy, chúng sanh cần được giác ngộ. Chính trong đời sống hiện tại, con người tu dưỡng đạt được cảnh giới Chân như, cảnh giới Niết bàn, con người tự giải thoát mà không rời sinh tử. Giác ngộ không phải do ai trao truyền mà phải tự mình thực hành lấy.

Nhân sinh quan của các thiền sư thời Lý

Phật giáo là học thuyết mang tinh thần nhân văn, gí trị nhân đạo cao cả. Phật giáo đề cao yếu tố con người. Xã hội là do con người tạo nên, tốt hay xấu là do con người. Tư tưởng triết học thiền tông thời Lý đề cập tới con người trong lẽ vô thường của thế giới. Con người là một phần của vũ trụ, hoà đồng với vũ trụ nhưng con người vì không hhiểu lẽ đó nên muốn có sự trường sinh vĩnh hằng, từ đó lo sợ đau khổ, sợ hãi. Thế giới là ảo ảnh, con người cũng như bóng chớp có rồi lại không.

Thiền sư Viên Chiếu (999-1090), thiền sư Vạn Hạnh đã khẳng định điều này trong các bại kệ:

Thân như tường bích dĩ đồi thì,

Cử thể thông thông thục bất bi.

Nhược đạt tâm không vô sắc tướng,

Sắc không ẩn hiện nhậm thôi di”.

(Thân thể người ta như vách đến lúc đỗ nát,

Tất cả người đời đều vội vả, ai mà chẳng buồn

Nhận thức được rằng tâm là không, vô sắc tướng

Sắc không ẩn hiện mặc nó đổi dời)

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô.

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

(Người đời như bóng chớp, có rồi lại không.

Như cây cối mùa xuân tươi tốt, mùa thu khô héo.

Mặc cho vận đời dù thịnh hay suy, đừng sợ hãi.

Thịnh suy cũng mong manh như giọt sương đầu ngọn cỏ)

Các vị thiền giả tu luyện bản lĩnh, vượt lên trên sự phân biệt, không còn cái ta và không ta, hoà đồng nội tâm và ngoiạ giới, không lo ngại sự thay đổi khôn lường của vũ trụ. Thiền sư phải là tấm gương cho chúng sinh, là người giác ngộ, là người đốt ngọn đuốc để soi tỏ con đường giải thoát khỏi sự mê lầm. Từ đó, lý lẽ chung của thiền tông là không câu nệ vào con đường tu tập mà Như lai đã từng đi. Thiền sư Quảng Nghiêm (1121-1190) đã từng lập luận:

Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ,

Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh.

Nam nhi tự hữu xung thiên khí,

Hưuu hướng Như lai hành xứ hành

(Thoát ly được lòng ham muốn niết bàn mới có thể bàn tới niết bàn,

Sinh vào cõi vô sinh mới nói vô sinh

Nam nhi tự có chí tung trời

Đừng đi theo bước chân của Như Lai)

Tư tưởng của Ni sư Diệu Nhân (1041-1113) đạt đến đỉnh cao của phương pháp tu tập giải thoát của thiền tông thời Lý. Ni sư khẳng định tinh thần độc lập, tự lực giải thoát, không lệ thuộc vào ngoại cảnh:

Sinh lão bệnh tử

Tự cổ thường nhiên.

Dục cầu xuất ly,

Giải phọc thiệm triền.

Mê chi cầu Phật

Hoặc chi cầu Thiền

Thiền, Phật bất cầu,

Đỗ khẩu vô nghiêm.

(Sinh lão bệnh tử

Lẽ thường xưa nay

Muốn cầu siêu thoát,

Nhưng cỡi trói cũng chính là buộc chặt thêm.

Mê muội thì mới cầu Phật

Nhầm lẫn thì mới cầu Thiền.

Chẳng cầu Phật chẳng cầu Thiền,

Mím môi, Vô ngôn)

Phật giáo thời Lý đã tôn vinh giá trị con người lên tới địa vị Phật. Tôn vinh con người, phục vụ con người, đáp ứng những nhu cầu tâm linh cao đẹp nhất của con người để giải thoát mọi khổ đau, nghiệp chướng là tôn chỉ, mụch đích trong suy nghĩ và hành động của các thiền sư thời Lý.

Từ bi

Lòng từ bi của các Thiền sư, vua quan nhà Lý qua các suy nghĩ và hành động rất đa dạng phong phú. Do hoàn cảnh lịch sử đặc thù của dân tộc lúc bấy giờ, nhà nước độc lập non trẻ, thù trong, giặc ngoài, đệ tử Phật không thể thủ tiêu đấu tranh mà phải giác ngộ rằng quyền lợi của mình hoà đồng vào quyền lợi của dân tộc.

Thiền sư Viên Thông (1080-1151) đã trình bày với vua Lý Nhân Tông:

Thiên hạ cũng giống như đồ dùng, đặt yên thì được yên, đặt chỗ nguy ắt gặp nguy; cốt yếu là hành vi của bậc nhân chủ như thế nào mà thôi. Nếu đức hiếu sinh hợp với lòng dân thì dân yêu như cha mẹ, ngữa trông như mặt trời mặt trăng: đó là đặt thiên hạ vào chỗ yên vậy”.

Đức tính thương người như thể thương thân của các minh quân, thiền sư thời Lý đã được sử sách ghi chép, ca ngợi nhiều. Chúng tôi muốn kiến giải suy nghĩ và hành động của các vị minh quân và thiền sư từ góc độ triết lý nhân sinh của triết học Phật giáo. Phật giáo không bàn đến phạm trù bình đẳng một cách độc lập như các thuyết khác, nhưng trong triết lý nhân sinh Phật giáo, không có sự phân biệt giữa những con người, Phật giáo chủ trương mọi người đều được giải thoát khỏi mê lầm. Từ bi và bình đẳng không có ranh giới. Từ bi là đem lại an lạc, hạnh phúc cho mọi loài, cho mọi người, cứu khổ cưu 1nạn không phân biệt. Phật là hiện thân của từ bi, người tu theo Phật là hực hành từ bi suốt đời, không gây đau khổ cho người khác và đương nhiên không thờ ơ trước sự đau khổ của người khác, tự giúp mình và giúp người thoát khỏi đau khổ, không câu nệ, cố chấp.

Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo thời Lý nói riêng không chỉ đề cao triết lý từ bi bình đẳng trong nhận thức mà trong thực tế, Phật giáo Việt Nam là một trong số ít quốc gia Phật giáo có sự bình đẳng trong tu tập, trong vị trí của các thiền sư, cư sĩ nữ đối với xã hội.

Giải thoát

Phật giáo thời Lý không chủ trương xuất thế để cầu giác ngộ. các thiền sư chủ trương giải thoát ngay trong chính cuộc đời, lấy nhân quần xã hội làm thử thách, từng trãi mà giải thoát. Phật gaió thời Lý kết hợp nhiều phương thức giải thoát trong các tông phái, chủ trương “tuỳ duyên” rất uyển chuyền nhưng cũng hàm chứa triết lý sâu sắc.

Phật không phải là đối tượng cho ý thức cầu tìm bên ngoài. Phật là tự tính chân như, một trình độ của ý thức, là biết giác ngộ, thường trụ bất biến tiềm tàng nơi chúng sinh. Chúng sinh phát hiện được tự tính chân như là ngộ đạo. Như vậy, con người muốn giải thoát không có gì bí ẩn, chỉ cần thay đổi suy nghĩ và hành động của mình từ chỗ mê lầm sang trong sáng, an nhiên tự tại. đó là sự ngộ đạo được thực hiện ngay khi con người đang hiệns inh trong cuộc đời, đang gắn mình trong hằng hà sa số các mối quan hệ. Con người sẽ không phải tách rời cõi sinh tử, mà sống trong cõi sinh tử nhưng khôngc ần sợ sự sinh tử, không bi quan, yếm thế mà lại nhập thế hành đạo, yêu đời, ung dung, tự tại. Kiều Bản Tịnh (1100-1176), tinh thông cả Nho – Phật – Đạo, đã từng theo học thiền sư Mãn Giác, cùng với Bảo Giám và Không Lộ làm thành thế hệ thứ chín dòng thiền Quan Bích, trong bài kệ đã nêu đường lối tự giác, giác tha:

Thế thế sinh sinh

Bất muội Phật chỉ.

Tự giác giác tha,

Vô gian bỉ thử.

Phương tiện đề huề,

Nhập ư nhất quỹ.

(Đời đời kiếp kiếp

Chẳng bao giờ làm mờ tối ý hcí của Phật

Mình tự giác ngộ để giác ngộ cho người,

Không phân biệt kẻ này, người khác.

Sẵn sàng dìu dắt, cùng đi vào một lối chung)

Triết lý giải thoát uyển chuyển của các thiền sư đã đưa họ đến với phương thức hoạt động tích cực trong cuộc sống xã hội. Các thiền sư là hiện thân cho chủ trương đã ngộ đạo khi gắn mình vào cuộc đời bình thường cũng phải hành động và suy nghĩ theo những đạo lý của cuộc sống; giải thoát trước hết là làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình đối với xã hội, đối với con người. Điều này thật có giá trị lý luận và thực tiễn đối với chúng ta.

Một số nội dung cơ bản của triết học Phật giáo thời Lý đã có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ thống triết học Phật giáo Việt Nam, ảnh hưởng đến sinh hoạt tư tưởng của người Việt. Đặc biệt, sự phát triển của Thiền tông thời Lý đã bổ sung và làm sâu sắc hơn hệ thống các phạm trù triết học Việt Nam với nhiều khái niệm, phạm trù cơ bản về thế giới quan và nhâns inh quan. Bằng triết lý của mình, các thiền sư thời Lý nhập thế tích cực cứu đời, cứu nước, cứu dân, “kiến tính thành Phật” ngay trên thế gian này. Nền độc lập và văn hei61n của Việt Nam không bao giờ thiếu vắng sự dày công gây dựng và vun đắp của các vị./.



Triết lý Phật giáo thời Trần trong biểu tượng hoa sen

clip_image003[7] Sở dĩ, người ta cho rằng hoa sen gắn với đạo Phật, bởi ở trong hoa đã có quả hay còn gọi là: “vị liên cố hoa” tượng trưng cho một ý nghĩa “nhân quả” của Phật pháp.

Ở Việt Nam, hoa sen chẳng những quen thuộc trong đời sống hằng ngày mà còn xuất hiện trong các huyền thoại Phật giáo gắn với những vị vua như: Khi có thai vua Lê Đại Hành, mẹ vua nằm mơ thấy bụng nở hoa sen; vua Lý Thánh Tông mơ thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài sen dắt vua lên tòa; vua Trần Nhân Tông “nằm ngủ trong chùa Tư Phúc mơ thấy từ rốn mình mọc lên một bông sen, trên bông sen có một vị Phật mình vàng”…

Cùng với những truyền thuyết này, thì trong kiến trúc cổ Việt Nam, hình tượng bông sen cũng đã được đưa vào một cách đầy sáng tạo. Tháp Phổ Minh thời Trần là một trong những tác phẩm kiến trúc như vậy và được gọi là tháp hoa sen. Tháp Phổ Minh được xây dựng ở trước hiên chùa Phổ Minh, Nam Định, là một ngôi tháp độc đáo, tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc thời Trần và cũng được xem là tháp tưởng niệm của vua Trần Nhân Tông – danh phong: Điều Ngự Giác Hoàng Tổ Phật.

Toàn bộ cây tháp cao 13 tầng, được đỡ bằng một bệ sen lớn gồm hai lớp, chạm bốn mặt của chân tháp và được cấu tạo một cách rất đặc trưng theo kiểu hình vuông, tương tự như lối chạm khắc thường gặp trên các bệ đá hoa sen thời Trần tìm thấy vào các giai đoạn sau này.

Thú vị là hai lớp cánh sen này, một ngửa một úp; lớp cánh sen úp chỉ là những cánh có tiếp diện nhìn nghiêng nằm úp xếp đều đặn với nhau; còn lớp cánh sen ngửa thì được xen kẽ giữa một cánh nhìn thẳng, một cánh nhìn nghiêng, khiến cho tiết điệu của các lớp cánh được thay đổi.

Trên mỗi đầu của các cánh sen lại được tạo bởi hai văn xoáy, và được điệp lại trên dìa cánh tạo nên sự sinh động, liên hoàn. Chúng góp phần tạo nên biểu tượng bông sen nghìn cánh như Hoa Nghiêm Kinh mô tả với những lớp chồng xếp sau trước, chứ không đơn thuần là hai lớp cánh được tạo hình một cách hết sức tượng trưng ở đây.

tinh tế không chỉ dừng lại ở việc tạo ra hai lớp cánh sen này. Người ta còn nhìn thấy một lớp cánh sen nhỏ hơn được tạc ở tầng đầu tiên của cây tháp, như nhấn mạnh cho ý nghĩa tháp được đặt trong lòng của một bông sen khổng lồ.

Bông sen đang tỏa hương khoe sắc trên mặt hồ được tượng trưng bằng những lớp sóng nước được chạm khắc ở ngay chân tầng tháp. Chúng tạo nên một sự tinh tế, trang nghiêm mà người thưởng ngoạn phải thật để tâm mới có thể thấy.

Hành với việc tạo tác một bông hoa sen khổng lồ, thì phần sân xung quanh tháp cũng được đào sâu xuống so với sân chùa và được kè vuông bốn phía. Điều này không chỉ có tác dụng làm cho móng tháp thêm vững chắc mà tạo ra biểu tượng hồ nước “Bích trì” trong đạo Phật.

Nó tạo ra một cái nhìn tổng thể từ chạm khắc cho đến kiến trúc và thiết kế không gian. Toàn bộ mô hình này của cây tháp khiến ta nhớ đến bức tranh “Hoa Tạng thế giới” trong kinh Tịnh Độ Tông, mà ngôi tháp giống như một sự hiện thực hóa của hình ảnh này bằng nghệ thuật kiến trúc.

Dáng của hoa sen cũng như sự sinh trưởng của nó còn mang lại cho ta những liên tưởng sâu sắc về cuộc sống. Rễ sen ăn sâu dưới bùn đại diện cho đời sống vật chất, cọng sen vượt ngang qua mặt nước tượng trưng cho cõi trung giới, còn hoa nở trong không khí trên mặt nước lại biểu thị cho thế giới tinh thần.

Sở dĩ, người ta cho rằng hoa sen gắn với đạo Phật, bởi ở trong hoa đã có quả hay còn gọi là: “vị liên cố hoa” tượng trưng cho một ý nghĩa “nhân quả” của Phật pháp. Đức Phật Thích Ca cũng đã dùng chính những ý nghĩa vi diệu này của hoa sen để chỉ ra: Phương tiện Phật hóa độ chúng sinh chính là Phật pháp Đại thừa. Trong đó, những mưu cầu giải thoát cho cá nhân được xem nhẹ mà đặt lên trên hết là sự mong muốn đi đến giải thoát cho tất cả, mong đem lại sự giác ngộ chân lý tới mọi chúng sinh trong cõi trần ai.

Niệm nhân sinh đó của Phật giáo Đại Thừa cũng chính là triết lý Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm thời Trần do vua Trần Nhân Tông sáng lập ra, nhằm mục đích gom toàn dân từ xác thịt đến linh hồn vào một khuôn khổ do họ Trần đặt ra. Điều đó biến Phật phái Trúc Lâm trở thành hình thái ý thức hệ của bộ ba “tam vị nhất thể” gồm Phật-Vua-Cha, phương tiện đắc lực giúp nhà Trần cai trị con dân. Trong đó, Vua-Cha là điều đã có sẵn trong Nho giáo, còn nhà Trần chỉ sáng tạo thêm Vua – Phật (Phật giáo) để biến các vua thành Thần-giáo chủ.

Ý nghĩa này cũng cho thấy tính chất cân bằng của Nho Phật trong triều đại nhà Trần. Việc hư cấu, mô phỏng cuộc đời Trần Nhân Tông từ lúc sinh thành cho tới khi lên ngôi rồi đắc đạo, giống như Thái tử Siddnartha trở thành Phật Tổ của nhà Trần không ngoài mục đích này. Thậm chí khi Trần Nhân Tông qua đời, những nghi thức mai táng cũng như thờ cúng ông đều được thực hiện giống như với một vị Phật.
Theo ghi chép về việc mai táng vua Trần Nhân Tông của tài liệu thế kỉ 19, đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng tháp Phổ Minh chính là ngôi tháp chứa xá lị của ông với hiện thân là một đóa sen vàng rực rỡ. Cây tháp chính là biểu tượng cho sự đồng nhất Vua – Phật, Phật – Vua. Cái tên Phổ Minh cũng phản ánh tư tưởng này của Phật phái Trúc Lâm. Đó là đem ánh sáng Phật, ánh sáng minh triết để giúp mọi sinh linh giác ngộ.

Do đó cây tháp vào giai đoạn này không còn chiếm vị trí trung tâm chùa như thời Lý, mà được đặt trước Tiền đường để trở thành biểu tượng phổ quang Phật pháp. Tháp Phổ Minh, vươn cao sừng sững như nối trời và đất, dù cách xa hàng cây số, người ta vẫn có thể trông thấy.

Nó vừa là điểm nhấn cho toàn thể kiến trúc chùa, và là cánh cổng mở ra thế giới tâm linh cho hàng nghìn tăng ni, phật tử hướng về. Có thể nói bằng hình tượng hoa sen, những nghệ nhân thời Trần đã mang đến một cách tiếp cận mới về đạo Phật thông qua kiến trúc, một cách thật cụ thể và hữu hình.


MỤC LỤC

 Triết Phật thời Lý, Giá trị văn hóa và ý nghĩa lịch sử. – 3 –

Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo thời Lý. – 11 –

Quan niệm về thế giới của các thiền sư thời Lý. – 12 –

Vô ngã, vô thường. – 13 –

Sắc – Không. – 13 –

Nhân sinh quan của các thiền sư thời Lý. – 15 –

Từ bi – 18 –

Giải thoát – 19 –

Triết lý Phật giáo thời Trần trong biểu tượng hoa sen. – 21 –

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: