Keep the memories

Tương lai của nông nghiệp : 8 giải pháp cho một thế giới bị nạn đói đe dọa

Mối thử thách để làm sao tới năm 2050 có thể sản xuất đủ để mà nuôi sống 9 tỷ con người trên trái đất – với đất đai canh tác mỗi ngày một giảm đi – là mối quan tâm của tất cả mọi người. Các nhà khoa học đang ngày đêm làm việc không ngưng nghỉ để có thể tạo nên được một cuộc cách mạng xanh lần thứ hai.

Dưới đây là tám giải pháp đã được các nhà khoa học để ra

1. Canh tác trên sa mạc

Bảy mươi phần trăm số nước ngọt trên thế giới được sử dụng cho canh nông.

Giải pháp: Thiết lập những nhà kiếng gần các bờ biển để biến chế nước biển thành nước ngọt nhằm trồng trọt hoa màu mà khỏi cần đến những nhà máy tốn kém để khử muối từ trong nước mặn.

Những ai trong tương lai bước vào nghề nông sẽ có thể trồng hoa màu như “salad” và cà chua trong sa mạc.

Ba dự án thử nghiệm của ETA – hiệp hội quốc tế Electronics Technicians Association – hiện đang được xúc tiến và các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm các địa điểm để có thể thực hiện những dự án thật quy mô.

Trong những chuyến du hành thường xuyên qua xứ Maroc, nhà thiết kế về ánh sáng người Anh là Charlie Paton đã rất đỗi kinh ngạc khi thấy biển và đất cát sa mạc mênh mông. Ông nói, “Mình ở ven sa mạc đấy nhưng lại gần biển đến thế.” Sau khi đã bán công ty cung cấp ánh sáng của mình, ông Paton khởi công thiết kế một hệ thống gì đấy khả dĩ có thể đưa hai thứ gần lại với nhau: loại nhà kiếng sử dụng nước biển – “Seawater Greenhouse” – kèm theo phương tiện sử dụng năng lượng thấp để có thể trồng trọt nông phẩm trong các vùng sa mạc nhằm sử dụng khối lượng nước biển dồi dào ngay cạnh đấy. Ba nhà kiếng trong dạng thử nghiệm ở Tenerife, vùng đá Canary Islands; ở Abu Dhabi thuộc vương quốc United Arab Emirates; và ở Oman đều sử dụng sức gió, các thiết bị cánh quạt và thiết bị làm bốc hơi đơn giản để biến nước biển thành nước ngọt, và trong quá trình đó thì cũng tạo ra một môi trường có độ ẩm để bất cứ một thứ thảo mộc nào cũng có thể sinh sôi.

Các nhà kiếng đó, với giá thành chỉ tốn kém 5 Mỹ Kim cho mỗi 30 xăng-ti-mét vuông, lấy nước từ biển, nhờ mức chênh cao độ giữa nước và đất hoặc nhờ một máy bơm. Nước nhỏ xuống hệ thống các ống có hình thù như tổ ong nơi lớp tường mặt trước rồi bốc hơi, làm mát cũng như gây ẩm lớp không khí ở bên trong. Không khí ấm dần lên khi di chuyển xuyên qua bên trong nhà kíếng – không khí nóng hơn thì có thể giữ lại được nhiều hơi ẩm hơn – trước khi di chuyển qua một hệ thống bốc hơi khác khiến không khí đó được bão hòa ở cao độ. Từ đấy, không khí di chuyển qua một hệ thống nén, hút ra nước ngọt và chuyển nó xuống một bồn chứa dưới lòng đất để được dùng tưới hoa màu.

Ông Paton hiện đang đi thám sát để tìm các địa điểm cho dự án Sahara Forest Project. Dự án này sẽ có thêm một nhà máy sử dụng năng lượng tập trung từ ánh sáng mặt trời để kết hợp với phương án nhà kíếng. Chừng đó thì khối lượng nước ngọt có thêm sẽ có thể được sử dụng để vận hành hệ thống nhà máy (nắng làm nóng lượng nước trong các ống dẫn để tạo nên hơi nước nóng tạo nguồn lực cho các máy phát điện) và làm sạch toàn bộ hệ thống kính phản chiếu tiếp thu ánh sáng mặt trời.

2. Trồng trọt theo các chuẩn mực chính xác

Từ 300 đến 500 pounds: Ðấy là con số phân bón mà nông dân Hoa Kỳ sử dụng cho mỗi mẫu Anh, theo cái giá từ 40 đến 80 cents một pound.

Giải pháp: Một hệ thống các thiết bị cảm nhận ( sensors) dưới mặt đất sẽ báo cho biết bao nhiêu phân bón và bao nhiêu nước sẽ phải cần đến, và chừng nào thì cần. Và như vậy sẽ có khả năng tiết giảm khối lượng tài nguyên cần thiết cho canh tác. Hiệp hội ETA cần năm năm để đem áp dụng một cách quy mô về mặt thương mại hệ thống nêu trên

Với khả năng “canh tác chính xác trong nông nghiệp” thì các tổ hợp di động được hê thống định vị toàn cấu (GPS) điều hướng có thể bỏ phân và tưới nước cho hạt giống với mức độ chính xác dưới 1 “inch”. Nay thì nông dân cũng đã có khả năng làm ăn chính xác kiểu như thế về mặt khối lượng cũng như về mặt tính toán thời điểm để áp dụng các khâu bón phân và tưới nước. Ông Stuart Birrell, một phụ tá giáo sư về canh nông và các hệ thống kỹ thuật sinh thái tại Đại học Iowa State University, đã kết hợp với đồng nghiệp của ông là Ratnesh Kumar, một giáo sư về điện và kỹ thuật vi tính, để thiết kế một hệ thống các thiết bị cảm nhận (sensors) nằm cố định dưới mặt đất suốt cả năm.

Các thiết bị cảm nhận này tiếp tục đo độ ẩm, nhiệt độ và chất liệu nuôi dưỡng hoa màu để truyền tín hiệu vô tuyến về một hệ thống máy điện toán tại trung tâm. Ông Birrell nói, “Hiện cũng có một số hệ thống ngoài thị trường không cần đến dây nhợ gì hết, thế nhưng hầu hết đều cần đến ‘ăng-ten’ vì thế mà dễ bị máy móc thiết bị canh tác làm hư hại.” Các thiết bị càm nhận của hai ông Birrell v à Kumar thì đều được đặt dưới mặt đất, sâu một foot, theo mạng lưới cách quãng từ 80 đến 160 feet. Chúng truyền tín hiệu xuyên qua lớp đất bên trên bằng cách sử dụng tín hiệu vô tuyến theo tần số thấp. Các thiết bị cả m nhận (sensors) có kích tấc bằng những cái “I pods” đó sẽ giúp nông dân tiết giảm mức phân bón sử dụng vì nước và nhiệt độ sẽ cho biết là chất ni-tơ và carbon được chuyển hóa ra sao qua lớp đất. Ðặt từ bốn đến sáu thi ết b ị cảm nhận như vậy cho mỗi mẫu Anh sẽ tốn từ 20 đến 30 Mỹ kim cho mỗi nông dân, theo lời ông Kumar, thế nhưng mức tiết kiệm được về mặt phân bón, nước và các tài nguyên khác sẽ có thể lên đến 150 Mỹ kim.

3. Gây dựng lại giống lúa

50 %: Ðấy là tỷ lệ dân số thế giới ăn cơm hoặc dùng thực phẩm lấy gạo làm gốc.

Giải pháp: Tạo ra giống gạo mới qua quá trình gây giống để thay đổi quá trình tiếp quang của cây lúa và hạt lúa để từ đó có thể trồng lúa nhiều hơn trong bất cứ điều kiện phong thổ nào. Người ta ước tính là làm cách đó thì có khả năng tăng mức trồng lúa lên 50% một năm và đồng thời cũng từ đấy học hỏi cách biến cải việc gây giống mới cho các loại hoa màu khác.

Theo ETA thì có thể thực hiện được điều đó trong vòng 10 năm tới đây.

Nếu gọi công việc mà những người như ông John Sheehy đang làm chỉ đơn giản có mỗi chuyện là biến cải lúa gạo theo cấu trúc về “gien” của chúng thì như vậy là không nói hết được tầm quan trọng của loại công việc này. Ông Sheehy, người đứng đầu phòng thử nghiệm về kỹ thuật quang tổng hợp ứng dụng ( applied photosynthesis) thuộc Viện nghiên cứu quốc tế về lúa gạo tại Manila, vốn là trung tâm nghiên cứu bất vụ lợi về nông nghiệp của Á Châu, đang tìm cách thay đổi phẩm chất căn bản nhất của gạo! Ông ta nghiên cứu cách biến cải cách thức cây lúa sử dụng năng lượng từ ánh sáng mặt trời để làm sao cho nó tăng trưởng nhanh hơn. Làm vậy thì cũng chả khác gì cải biến hệ thống tiêu hóa của con người sao đó để người ta tiêu hóa được đồ ăn thức uống với hiệu quả gấp đôi.

Ông Sheehy và toán của ông đang tìm cách tạo ra một giống lúa gạo loại siêu đẳng bằng cách biến nó thành một loại thảo mộc gọi là C4.

Hầu hết các loại thảo mộc, kể cả cây lúa, đều kinh qua một quá trình quang tổng hợp (loại quá trình được giảng dạy ở trung học, nói về việc cây cỏ sử dụng ánh sáng mặt trời, nước và khí carbon dioxide để tạo nên các dạng carbohydrates chứa đầy năng lượng) gọi là C3. Thế nhưng loại thảo mộc C4, kể cả bắp và lúa miến tạo ra tế bào hữu hiệu hơn trong các vùng khí hậu ấm áp cũng như khô hơn bằng cách sử dụng một quá trình khác trong việc tạo nên những carbohydrtates như vừa nêu, và nhóm carbohydrates này cần ít CO2 (carbon dioxide) hơn. Làm như vậy tức là giảm bớt khoảng thời gian mà các thảo mộc đó cần để cho những lỗ hở nơi lá mở ra để hút thán khí CO2, và như vậy thì tức là nước trong lá đỡ bị bốc hơi hơn.

Còn làm thế nào để thực hiện một sự cải biến như vậy thì các nhà khoa học biết rằng khả năng của C4 đã tiến hóa nhiều lần trong quá khứ, do đó mà kế hoạch của người ta là chỉ việc nhại thiên nhiên. Ðể làm việc đó thì ông Sheehy và toán của ông phải xác định xem loại “gien” nào điều phối cấu trúc lá của loại C4 và cơ bản là tiến hóa để trở nên một loại lúa gạo có năng suất cao hơn. Một khi mà họ giải mã được quá trình đó thì những kỹ thuật tương tự cũng sẽ được áp dụng trong việc biến cải các loại hoa màu khác thành loại thảo mộc C4, chẳng hạn như rồi ra để có thể trồng lúa mì trong vùng sa mạc phía Nam sa mạc Sahara ở Phi Châu.

4. Thay phân bón

1.2 %: Ðấy là mức các loại khí thoát ra từ các nhà máy sản xuất phân bón trên toàn cầu, tác động vào vòm nhà kíếng của khí quyển bao che trái đất.

Làm sao giảm thiểu mức đó? Giải pháp được đưa ra: Cho thâm nhập vào đồng áng các loại vi trùng có khả năng rút khí nitrogen từ không khí. Làm như vậy thì có triển vọng làm tăng năng suất sản lượng thu hoạch về nông phẩm mà đồng thời cũng khiến cho đất đai lành mạnh hơn trước.

Tổ chức ETA cho biết là hiện đã có sẵn – tuy ít – những loại vi trùng như thế.

Các loại phân bón đã giúp nâng các mức thu hoạch về hoa màu trong 30 năm vừa qua. Phân bón bấy nay cung ứng các mức bổ sung về nitrogen, phosphrus và potassium, là những chất tối cần thiết cho thảo mộc tạo nên các amino acids và các màng tế bào. Rồi đây nông dân sẽ có thể gặt hái được những mối lợi từ việc sử dụng các loại vi trùng có tác dụng như nêu ở trên thay vì sử dụng phân bón do người làm ra, và chừng đó thì có thể hạ giá thành xuống hàng trăm đô-la. Ông C.A. Reddy, một giáo sư về vi trùng học và khoa học về “gien” ở dạng phân tử tại đại học Michigan State University đã nghiên cứu 300 loại vi trùng sinh sôi tự nhiên trong đất và kết hợp một số chủng loại trong bọn chúng để có thể vừa làm giảm nhu cầu sử dụng các loại phân bón có chất phốt-pho (phosphorus) và nitrogen, mà cũng vừa có thể bảo vệ cây cỏ chống các loại vi trùng hay vi khuẩn gây bệnh cho cây lá, cũng như cùng lúc đẩy mạnh sản lượng thu hoạch đối với hầu như là mọi hoa màu.

Trong các đợt thử nghiệm của ông Reddy, những cánh đồng trồng cà chua có vi trùng cho thâm nhập vào đất đã nâng cao sản lượng thu hoạch gần 90% và việc trồng cà chua trong các nhà kíếng lại thường đạt năng suất cao hơn gấp bội so với khi sử dụng phân bón theo kiểu xưa nay. Ông ta cũng đã cho áp dụng thử phương thức đó đối với các thảo mộc từ cà dài/ tím cho đến Switchgrass. Ðược bán ra ở thể lỏng với cái tên “Bio-Soil Enhancers”, các nhóm vi trùng của ông Reddy đều có khả năng tự bảo tồn, tức là khác với loại phân bón phổ thông mà mỗi năm người ta phải rắc lại. Hiện hàng năm ông Reddy đều thực hiện những cuộc thử nghiệm quy mô trên các đồng đất canh tác.

5. Lập lại bản đồ cho một lục địa

0 (số không): Ðấy là mức gia tăng về nông lương thực thu hoạch tính theo đầu người trong vùng phía Nam sa mạc Sahara trong 40 năm qua.

Làm sao tăng? Giải pháp được đưa ra: Thu thập cứ liệu một cách triệt để về đất đai được sử dụng để du nhập những kỹ thuật về canh tác nông nghiệp mới mẻ.Người ta ước tính là nông dân Phi Châu sẽ gia tăng mức thu hoạch nông phẩm lên gấp đôi vào năm 2050đủ để nuôi dân cư địa phương

Tổ chức ETA ước tính là qua năm 2010 thì có thể thu thập được các cứ liệu nói trên.

Giả sử như ta làm việc cho một tổ chức lớn nào đấy đang tìm cách làm giảm tình trạng suy dinh dưỡng trong vùng phía Nam sa mạc Sahara. Ta muốn cho dự án của mình đạt được hiệu năng tối đa. Như vậy thì trong 3 giải pháp: tài trợ cho các dự án thủy lợi, đưa ra các loại giống mới hoặc đưa ra các loại hoa màu có khả năng chống sâu bọ hữu hiệu hơn, thì cái nào có khả năng dẫn đến kết quả tốt nhất?

Cũng vì để giải đáp câu hỏi đó mà tổ chức Bill và Melinda Gates Foundation đã trao tặng 4.7 triệu đô-la cho tổ chức Harvest Choice, một tổ chức hoạt động với chương trình thu thập và tập hợp thêm nhiều dữ liệu hơn bao giờ hết các công trình điều nghiên của chính phủ về thành phần trong từng gia đình, thông tin về khí hậu thời tiết để giúp vào việc thiết lập bản đồ cho thấy khả năng trồng hoa màu, lập nên các mô hình lý thuyết về các dạng phát triển. Mục đích là tạo dựng được hầu như một thư viện về các hệ thống nông nghiệp tại Phi Châu. Với các dữ liệu theo nhau đổ dồn về thì tổ chức Harvest Choice dựng nên các đồ bản với đầy đủ thông tin cần thiết để rồi từ đó lập nên những sơ đồ giả định là đối với từng giải pháp thì kết quả sẽ ra sao. Ông Stan Wood, người cùng nắm chức vụ cầm đầu tổ chức Harvest Choice cho Viện nghiên cứu quốc tế bất vụ lợi về nghiên cứu chính sách lương nông quốc tế ( International Food Policy Research Institute) phát biểu, “Bạn chả đời nào lại đi đầu tư vào một nông trại cung cấp sữa nếu như từ đó ra đến chợ lại phải bỏ ra sáu tiếng đồng hồ trên những con đường gập ghềnh.”

Trong khi đó thì cơ quan NASA kết hợp với Bộ Canh Nông Hoa Kỳ để sử dụng vệ tinh Aqua nhằm theo dõi độ ẩm của đất quanh thế giới. Mức thu hoạch hoa màu được xác định bởi một phần do nơi mực nước được giữ lại trong đất. Vệ tinh đó thu thập cứ liệu về mức phóng xạ theo sóng cực ngắn do đất phát ra, mà từ đó các nhà khoa học kết hợp với thông tin về diện tích đất đai có cây cỏ bao phủ cũng như nhiệt độ của đất để ước lượng xem có bao nhiêu lượng phản xạ phát xuất từ nước tích tụ trong đất. Sở Canh nông Ngoại vụ của Bộ Canh Nông Hoa Kỳ hiện đang sử dụng các dữ liệu nói trên để giúp vào việc dự báo thu hoạch về hoa màu sao cho chính xác hơn cả cho Hoa Kỳ lẫn các nước đang phát triển, nơi mà cứ liệu về đất đai chẳng có được bao nhiêu. Năm 2013 thì dự án này sẽ được thêm sự tăng viện của vệ tinh “Soil Moisture Active and Passive” có chức năng cung cấp những thông tin có mức độ chi tiết hơn vệ tinh Aqua.

6. Sử dụng sức lao động của người máy nông nghiệp

55 tỉ Mỹ kim: Ðấy là trị giá kỹ nghệ hoa trái thuộc diện đặc sản – táo, nho, lê cũng như các loại trái khác cần được gặt hái cẩn thận – cần đến số nhân lực để gặt hái nhưng số người lao động về mặt đó lại cứ giảm dần.

Giải pháp: sử dụng người máy nông nghiệp để theo dõi kiểm tra, tỉa cây cành, và ngay cả đảm trách việc gặt hái. Và như vậy thì nơi đâu cũng tự mình trồng lấy những loại hoa trái và rau cỏ với giá rẻ để ai nấy đều có thể tiêu thụ.

Tổ chức ETA ước tính là chỉ trong vòng hai năm là có thể tiến đến việc thực hiện chuyện đó.

Trong khi ngành ngân hàng và kỹ nghệ sản xuất xe bị điêu đứng từ bên trong thì giới trồng rau cỏ và trái cây cũng có mối lo trong việc đối phó với cuộc khủng hoảng tài chánh của phía họ. Luật lệ di trú cứng rắn, bên cạnh những nhân tố khác, đã làm sụt giảm lực lượng lao động chuyên hái trái cây cần được hái bằng tay, và trong một số trường hợp đã khiến cho hoa trái trị giá đến hàng triệu đô-la không ai gặt hái. Vừa mới đây Bộ Canh Nông HK đã làm một việc coi như cứu vớt không chính thức bằng cách trao tặng 28 triệu đô-la cho ông Sanjiv Singh thuộc viện đại học Carnegie Mellon University và một số các nhà nghiên cứu khác trên toàn quốc để coi đấy như một phần cho các vị đó nghiên cứu thiết lập các hệ thống nông nghiệp cơ giới hóa nhằm cải thiện phẩm chất các loại trái cây, một phần để điền khuyết việc thiếu hụt nguồn lao động và cũng một phần, người ta hy vọng như thế, giúp giới trồng trái cây không đi đến chỗ phá sản.

Ông Singh và toán nghiên cứu của ông hiện đang tiến hành thử nghiệm dã ngoại các người máy nông nghiệp tương lai trên vùng đất ngay ngoài thành phố Pittsburgh. Những chiếc xe bốn bánh chạy rì rầm giữa những vườn trái cây, sử dụng các thiết bị cảm nhận ( sensors) để phát hiện những thứ như nấm và mức tăng trưởng của cây trái. Một lô các thiết bị cảm nhận khác được cài dưới mặt đất thì theo dõi độ ẩm của đất và các mức độ ánh sáng. Ông Singh phát biểu, “Những ai có hàng nghìn mẫu đất thì đơn giản là không cách chi theo dõi tất cả số lượng hoa màu do mình trồng.” Trong tương lai, các nông dân sẽ có thể quản lý ở mức chi ly đối với từng loại cây từ một trạm trung ương, và phái người máy đi đối phó với những đợt xâm lăng của sâu bọ côn trùng hoặc mỗi khi có sự bất quân bình nào đó trong đất trước khi bất kỳ một tráii cây nào sắp sửa bị hư.

Thế nhưng liệu các người máy có thể gọi là “xắn tay áo lên” mà hái trái hay không? Hãng Vision Robotics, một công ty tại San Diego cho là chuyện đó có thể làm được. Hãng đang thiết kế các người máy đi thám sát được trang bị bằng máy hình loại stereo để định vị cùng xác định kích tấc của trái trên cây. Các người máy này truyền những tín hiệu đó cho một đám người máy khác chuyên hái trái với ngoại hình trông giống những con bạch tuộc chạy trên bánh xích với những cánh tay dài vươn ra để nhẹ nhàng hái quả trên cành. Nhưng hiện giờ thì tốc độ cũng như mức chuẩn xác của các loại máy này vẫn kém xa người thật, và sử dụng chúng thì vẫn còn tốn kém hơn nhiều. Ðối với ông Singh, thì đấy là điểm then chốt để người ta tính toán cân nhắc, “Giới nông dân sẽ chờ mình giải thích xong đâu đấy rồi 15 phút sau họ mới bắt đầu hỏi, ‘Giá cả một người máy đó là bao nhiêu?’ Nếu phải tốn cho một người máy gấp 10 lần so với một nhân công thì coi như cái vụ người máy là không xong!”

Ông ta lập luận rằng trong đoản kỳ thì câu trả lời mang tính thực tiễn là những máy móc nào giúp cho đỡ tốn người hơn để làm được nhiều việc hơn thì bấy giờ may ra mới thành công

7. Làm cho đất hồi sinh

25 %: Ðấy là số đất đai trên toàn cầu đã bị các hoạt động của con người làm cho xuống cấp.

Giải pháp cứu chữa: Cho thêm vào đấy chất “biochar”, một hình thức than đá cung cấp cho thảo mộc các chất dinh dưỡng tối cần thiết nhưng đồng thời cũng giam hãm chất carbon nơi các thảo mộc đó. Người ta ước lượng là những vùng đất mênh mông bấy nay không canh tác được thì mai kia sẽ có thể canh tác được, mà đồng thời cũng cô lập hóa được hàng tấn khí carbon.

Tổ chức ETA ước lượng là chuyện đó giờ này đã có thể làm được.

Các bộ lạc ở vùng sông Amazon bên Nam Mỹ trước thời Colombus đã thường phát hoang rồi đốt cháy từng khu rừng thật lớn để trộn tro than hòa với đất, tạo nên một lớp đất màu đen, phì nhiêu gọi là “terra preta”. Ngày nay người ta làm chất than đó dưới dạng “biochar” (làm từ rác chứ không do đốt rừng). Chất đó cùng lúc vừa có thể khiến việc canh tác có được đất đai phì nhiêu lâu dài hơn và biến các đồng ruộng thành những kho chứa carbon. Chất “biochar” thu hút các vi sinh vật giúp cho thảo mộc hút được chất dinh dưỡng từ dưới mặt đất và giúp đất đai lưu trữ được nước nhiều hơn. Hay hơn nữa là chất “biochar” đó chốt chất carbon lại trong khối vi sinh vật thay vì để nó thoát lên không khí. Các phương thức mới để làm ra chất “biochar” khởi đầu bằng việc để cho thảo mộc mục rữa bằng cách làm nóng chúng lên ở những nhiệt độ thật cao với mức oxy thấp.

Thử thách đối với các nhà khoa học về đất đai là làm thế nào xác định các nguyên vật liệu nào tốt nhất cũng như quy trình nào tốt nhất để làm ra chất “biochar”. Mỗi quy trình như thế cho ra một loại than với những hợp chất dinh dưỡng khác nhau cho thảo mộc. Một vài phương pháp cũng tạo nên chất dầu “bio-oil” và khí “syngas” khả dĩ có thể đem bán để bù đắp cho các phí tổn làm ra chất “biochar”.

Một nhóm công ty tiên phong hiện đang xây dựng máy móc thiết bị để làm “biochar” ở chừng mực phù hợp với từng làng mạc cho đến các nông trại kỹ nghệ quy mô. Một trong những công ty đầu tiên tung ra thị trường chất “biochar” là công ty “Biochar Engineering” tại Colorado. Các máy móc cỡ những kiện hàng chở trên tàu biển đều có thể di chuyển được tương đối dễ dàng cho nên giới nông dân có thể sản xuất ra “biochar” tại chỗ, ngoại trừ việc chuyển vận chất “biomass” – nguyên liệu làm “biochar” – đến từ một trạm trung tâm. Các loại “ga” có chứa hidroge, nitrogen và thán khí (C02)đều được hoàn toàn đốt cháy trong một quá trình biệt lập, tạo nên hơi nóng để vận hành toàn bộ quy trình đó.

Rồi ra, các tổ hợp được bổ sung vào có thể sản xuất ra chất đốt ở thể lỏng như methanol, ngoài số lượng than được sản xuất ra

8. Sản xuất các hoa màu loại thượng đẳng

1/3: Ðấy là tỷ lệ dân suy dinh dưỡng tại Phi Châu

Giải pháp: Làm thế nào biến cải giống sắn/khoai mì thành một hoa màu loại thượng đẳng? Làm được như vậy ngay tại Phi Châu cũng sẽ có khả năng sản xuất ra gấp 10 lần các chất dinh dưỡng từ giống khoai mì hiện có.

Tổ chức ETA ước tính là đến năm 2015 thì có khả năng làm được chuyện đó.

Giá loại rễ – củ khoai mì thì rẻ và nó mọc được trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt. Chính vì thế mà 250 triệu con người lấy đó làm món ăn chính. Bởi thế mà các nhà khoa học đang tìm cách biến cải nó thành một loại thực phẩm siêu dinh dưỡng trong các loại rau cỏ: tức là ai nấy cũng chỉ cần gậm một miếng là vừa no và vừa đủ bổ! Việc đó không phải chuyện dễ. Giống khoai mì thiếu chất sắt, chất kẽm, sinh tố A và sinh tố E. Và nó bị hư thối sau hai ngày, do đó mà nông dân người ta không thể trồng thêm để bán.

Nông phẩm “BioCassava Plus” là một nỗ lực với kinh phí 12 triệu dollars của trung tâm “Donald Danforth Plant Science Center” tại St Louis nhắm phát triển một giống khoai mì với nhiều chất dinh dưỡng hơn, có thể trữ được lâu hơn, có khả năng chống vi khuẩn mạnh hơn, và không có các chất độc loại cyanide trong rễ.

Cho đến giờ này thì các nhà khoa học đã tạo ra được các giống riêng rẽ với gấp bốn lần lượng chất đạm, gấp 10 lần sinh tố E hoặc gấp tám lần chất kẽm. Bước kế tiếp là kết hợp các “gien” lại với nhau trong một loại sắn duy nhất, bằng cách sử dụng các loại giống mà nông dân xứ Kenya và Nigeria ưa chuộng. Chương trình đó vừa mới đây đã được sự chấp thuận để thử nghiệm dã ngoại lần đầu tiên cho một loại hoa màu được hoán chuyển “gien”.

Đà Nẵng: Nông nghiệp sinh thái đô thị – giải pháp của tương lai

Viết bởi Trần Duy Vinh

Sáng ngày 13-11, Khoa Sinh – Môi trường, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng (Đại học Đà Nẵng) phối hợp với Công ty TNHH Tầm nhìn Sinh thái tổ chức Hội thảo “Nông nghiệp sinh thái đô thị – giải pháp của tương lai”.

Rau thủy canh tĩnh được trồng tại một hộ dân phường Thanh Bình, quận Thanh Khê, Tp. Đà Nẵng

Tại Hội thảo, các nhà khoa học đã đưa ra các giải pháp cho nông nghiệp sinh thái đô thị như: “Kỹ thuật thủy canh tĩnh – ưu điểm và sự thích hợp với các hộ gia đình nội thành thành phố Đà Nẵng” của Thạc sĩ Đỗ Thị Trường; “Thủy canh hồi lưu & Khí canh – giải pháp của nền nông nghiệp sinh thái đô thị” của Tiến sĩ Võ Văn Minh; “Cây xanh trong kiến trúc đô thị hiện đại” của Thạc sĩ Nguyễn Văn Khánh; “Cây cảnh thủy canh – sự lựa chọn của các hộ gia đình, phòng khách và trường học thân thiện” của Trần Duy Vinh – Giám đốc Công ty TNHH Tầm nhìn Sinh thái; “Nuôi cấy mô tế bào thực vật – giải pháp cung ứng giống cho nền nông nghiệp sinh thái đô thị” của Kỹ sư Trần Quang Dần,…

Đây là một trong những kỹ thuật sản xuất nông nghiệp mới do các nhà khoa học nghiên cứu trong nhiều năm qua để giải quyết những bức xúc của ngành nông nghiệp bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa quá nhanh.

Trồng rau sạch trên sân thượng hộ gia đình trong nội thành thành phố Đà Nẵng bằng phương pháp thủy canh tĩnh

Tiến sĩ Võ Văn Minh – Trưởng Khoa Sinh & Môi trường (Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng) cho biết: “ Hiện nay, nền nông nghiệp nước ta nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng bị ảnh hưởng nặng nề do tốc độ đô thị hóa quá nhanh. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, thậm chí trong vùng nội thành hoàn toàn không còn đất để trồng cây xanh, trồng rau sạch… Chính vì thế, trong nhiều năm qua, chúng tôi đã nghiên cứu, thực nghiệm và đưa ra những giải pháp cho nền nông nghiệp sinh thái đô thị trong tương lai, đó là các sản xuất rau xanh, cây thực phẩm, cung cấp cây xanh cho đô thị… bằng phương pháp thủy canh, khí canh và nuôi cấy mô tế bào thực vật. Với phương pháp này, các hộ dân có thể trồng rau sạch, cây thực phẩm,… bất cứ nơi đâu, thậm chí những nơi có diện tích rất nhỏ như: góc sân, sân thượng,…”.

Theo Sài Gòn Giải Phóng

Lần đầu tiên VN tổ chức một festival lúa gạo. Thị xã Vị Thanh nhỏ bé bên dòng kênh xáng Xà No trở nên rất nhộn nhịp trong ngày khai mạc festival. Ở đó, người ta không chỉ thấy các nhà doanh nghiệp mà còn có rất nhiều nông dân chân lấm tay bùn đi trẩy hội. Họ đến để coi cây lúa, nông dân được tôn vinh như thế nào. (Xem tiếp trang 2)

Trong thời đại mà các nhà chính trị quốc tế luôn luôn nhắc đến tầm quan trọng của vấn đề an ninh lương thực, khi mà nhân loại đã bước vào thế kỷ 21 với tất cả tính chất đã được bộc lộ của “con người thông minh” nhưng vẫn còn 3 tỉ người ăn không đủ no, trong đó 1 tỉ người đói quay đói quắt, vấn đề lương thực trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tất cả cho thấy festival lúa gạo đang được tổ chức tại Hậu Giang ở tầm vóc nào.

Thế kỷ 21, con người văn minh lại đang phải đối phó với những cuộc khủng hoảng lương thực lớn lao, bắt đầu bùng nổ vào năm 2007 cho đến những tháng đầu năm 2008. Điều lạ lùng là cơn sốt gạo cũng đã xảy ra ở VN – nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới!
Cho đến bây giờ thế giới tạm thoát ra cơn khủng hoảng lương thực nóng bỏng nhưng những cuộc khủng hoảng tương tự hoặc lớn hơn chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai rất gần. Các nhà nghiên cứu đánh giá, đến năm 2050, khi dân số thế giới đạt con số 9 tỉ người, sức sản xuất nông nghiệp của thế giới phải tăng 34% là một thách thức quá lớn của toàn thế giới, khi mà quá trình đô thị hoá quá nhanh, diện tích đất nông nghiệp thu hẹp lại. Theo số liệu của Liên Hiệp Quốc, năm 2010, lần đầu tiên dân số thành thị trên thế giới vượt dân số nông thôn với 50,2%; năm 2050 con số đó là gần 70%.
Tất cả những thông tin đó là những lời cảnh báo gay gắt không chỉ cho thế giới mà còn cả cho VN. Còn một nguyên nhân khác là thái độ coi thường ngành nông nghiệp trong nhiều năm qua. Nhân ngày Quốc tế chống nạn đói trên thế giới (16-10), tờ Le Monde đã chỉ ra thái độ đó khi dẫn số liệu trong viện trợ phát triển công cộng, phần dành cho nông nghiệp đã giảm từ 20% trong thập niên 1970 xuống còn 4% vào cuối thế kỷ 20. Cả thế giới ầm ầm chạy theo tiếng gọi của công nghiệp hoá – hiện đại hoá mà lơ là công nghiệp hoá cho ngành nông nghiệp.

Bài học này ở VN vẫn thấy rõ ràng khi mà nông thôn nước ta còn rất nghèo, tuy chiếm gần 70% dân số, đóng góp hơn 29% GDP nhưng thu nhập nông dân chỉ bằng 1/4 mức bình quân của dân đô thị. Điều đó dễ hiểu vì nông dân sản xuất ra lúa gạo nhưng họ lại không có quyền định đoạt giá cả.
Để đối phó với những cơn khủng hoảng lương thực, các nhà nghiên cứu đã đề cập khái niệm sáng tạo một nền nông nghiệp của tương lai. Đó là sự đầu tư khoa học cho ngành này để tạo ra một cuộc cách mạng xanh lần 2. Ngoài ra, phải đầu tư lớn cho nông thôn, cho nông dân.
VN cũng không nằm ngoài những dự báo, yêu cầu đó. Một nền nông nghiệp cho tương lai của VN sẽ như thế nào là câu hỏi chúng ta phải hoạch định và trả lời ngay từ bây giờ

Khi nào Việt Nam mới sửa soạn cận đại hóa nông nghiệp cho thế kỷ 21 , như Nam Hàn đang bắt đầu , như Abu Dhabi v.v… :

Nông nghiệp tương lai : nông trại thẳng đứng chọc trời , họat động cao kỷ thu họach bằng robot, gà nuôi la bô, vi khuẩn rọi sáng …. ?

G S Tôn Thất Trình

Chúng tôi đã đề cập đến nông nghiệp cao ốc và Việt Nam chỉ mới khởi sự trồng thử cây mầm ( các lọai giá ) trên sân thượng và nuôi trồng trong nước thủy sinh -hydroponics ở ngành hoa kiểng ( hoa lan ? ). Theo Cliff Kuang ở số tháng 9 , nguyệt san Khoa học phổ thông Hoa Kỳ , thì nông nghiệp hiện tại đang tan vỡ . Những kỷ thuật truyền thống sử dụng quá nhiều năng lượng và sản xuất rất ít thực phẩm cho dân số tăng mau lẹ ở hành tinh Trái Đất . Cải thiện như thế nào đây cho đúng theo tiến bộ thế kỷ thứ 21 ? : nhà chọc trời nuôi trồng mùa màng trong nước – hydroponic và nuôi cấy thịt trong la bô , chạy bằng rôbôt . ..

Đến năm 2025, dân số thế giới sẽ phồng lên , từ 6.6 tỉ đến 8 tỉ người. Khí hậu bắt chước trên computer , tiên đóan hạn hán kéo dài dai dẳng ở Trung Tây Hoa Kỳ và những vạt nông trang rộng lớn ở Phi Châu và Á Châu . Tiên đóan đã 200 năm trước của nhà tóan học Thomas Malthus là tăng gia dân số con người , ngày nào đó sẽ vượt mặt nông nghiệp, cuối cùng đã xảy ra rồi chăng ? Tiến bộ kỷ thuật nông nghiệp còn nuôi sống chúng ta đến nay , nhưng tài nguyên của hành tinh Trái đất đã gần khai thác hết ?

Lựa chọn đã rỏ ràng , chúng ta cần suy nghĩ lại cách nào chúng ta sản xuất thực phẩm hay chúng ta sẽ chết đói đó . Nhà khoa học môi sinh Dickson Despommier , viện đại học Columbia và những nhà khoa học khác đề nghị một giải pháp cơ bản: chuyễn nuôi, cấy, trồng nông trang vào các nhà chọc trời , cao ốc . Những tháp cao tầng này sẽ làm nông nghiệp không đất ( không thổ nhưỡng ) , nuôi trồng trong nước thủy sinh – hydroponic ) , để cắt xén yêu cầu năng lượng . Chúng sẽ họat động bằng một tiến trình chuyễn hóa nước thải ống cống thành điện .Trong khi đó vẫn sản xuất thực phẩm nhiều hơn nữa . Nông nghiệp trên trời cao, sẽ giải tỏa đất nông nghiệp để trồng cây mộc ( cây gỗ – trees ), giúp lấy bớt carbon dioxide từ khí quyễn . Tốt hơn nữa, nông nghiệp cao ốc chọc trời gần nơi thực phẩm được ăn uống, như vậy cũng sẽ, không những giảm bớt phí tốn, mà còn giảm phát thải chuyên chở nữa. Nếu bạn bao gồm luôn cả phát thải đốt cháy dầu trồng trọt và chuyên chở mùa màng, thú vật nuôi, cọng thêm , vâng chính thế, khí methane hơi dạ dày động vật nông trang , nông nghiệp chiếm gần 14% phát thải khí nhà kiếng thế giới .
Bạn chưa có thể mua hàng tại tiệm tạp hóa nông trang thẳng đứng , Chỉ mới có những cố gắng làm nông trang thẳng đứng đô thị, ở những thí nghiệm bé nhỏ , kế cận các công viên thị trấn . Nhãn quan, cái nhìn Despommier lớn lao hơn nhiều : một tháp cao 30 tầng , tốn 200 triệu đô la Mỹ , bao phủ cả một phố xá đô thị , nhét đầy trái cây , rau đậu và gà , đủ nuôi sống 50 000 người . Ông nói : phế thải cho vào , thực phẩm tuôn ra; cho nên một nông trại thẳng đứng sẽ là một máy luôn luôn chuyễn động, nuôi sống được rất nhiều người . Mọi kỷ thuật đều đã có sẳn rồi, theo lời ông , và lọc sàng hòan chỉnh thêm đôi chút, dự án có thể thực thi mau chóng , dù chỉ được cấp khỏang 0.25 % tiền trợ cấp cho nông phẩm Hoa Kỳ thập niên vừa qua. Con số không đáng kể, khoảng chừng 500 triệu đô la mà thôi .

Despommier hiện đang cố vấn các nhà đầu tư ở Abu Dhabi và Nam Hàn ( Hàn Quốc ) , hai nước đang xem xét xây dựng nông trại thẳng đứng cho các đô thị sinh thái , Hai thành phố Hoa Kỳ Seattle và Las Vegas cũng đang khảo sát những ý niệm tương tự , nhưng nhỏ bé hơn . Dưới đây là thám hiểm nông trại tương lai , khảo cứu mủi nhọn cảm hứng các công ty nông nghiệp và các nhà khoa học cho những quốc gia tương đối ít đất nông nghiệp , Việt Nam đang muốn làm tháp cao ốc 60 tầng , có lẽ nên theo dõi , khảo nghiệm các kỷ thuật khoa học nông nghiệp thế kỷ 21 này chăng ? Nếu may mắn thành công , thế giới sẽ có cơ đẩy lui tai họa Malthus 200 năm nữa ?

Từ mặt đất lên cao

Làm nông nghiệp ở cao ốc, nhà chọc trời, không phải chỉ cần có chút ít hột giống , chút ít đất là đủ rồi. Sau đây là bản chỉ dẫn làm nông nghiệp kỷ thuật tự động, làm các lọai thịt tăng trưởng trong la bô, dùng vi khuẩn rực sáng, và máy chuyễn hóa nước ống cống thành điện , giúp nông nghiệp thẳng đứng mau chồm dậy .

A) Vòng ngựa quay gỗ, trồng nước , trồng thủy sinh

Dù cho phương pháp trồng trọt trong nước và các nông trang nuôi cá đã sản xuất cao năng , chúng cần nhiều chăm sóc . Canh tác thủy sinh không đất đai , đòi hỏi phải tái cấp dưỡng liệu thường xuyên . Các thùng , bể cạn nuôi cá , cần tháo nước dơ bẩn liên tục. Nhưng cặp đôi hai cách này thành một hệ thống, những khuyết điểm sẽ thành ưu điểm .

Hệ thống đai chuyễn vận – belt conveyor do hảng Organitech ở nước Do Thái -Israel quan niệm ra, xây dựng một hệ thống tự động , đưa công tác trồng trong nước , tiến thêm một bước xa hơn nữa . Dòng chảy chậm ở thùng -bể cạn , mang theo những khay ( hình 1 ) cây cỏ, thực vật trôi nổi qua các bộ phận phân phối ( hình 2) . Rồi thì cuối cùng cuộc du hành kéo dài một tuần lễ này, đã sẳn sàng thu họach mùa màng. Bên dưới chúng, cá rô phi – tilapia nhiều protêin bơi lội ( hình 3 ); trong khi đó các chất phế thải đầy ammonia, rơi xuống đáy trải sạn . Vi khuẩn sẽ biến chất phế thải thành phân đạm- nitrogen . Hệ thống bơm nuớc chứa nitrogen này đến thực vật , cây cỏ. Thực vật sẽ tiêu thụ nitrogen và chuyễn lại nước sạch cho cá .

Lưu ý là tua bin gió trục thẳng đứng hửu hiệu thêm 50% nữa , ở điều kiện gió nhẹ , so với tua bin truyền thống . Nông dân chất cây cỏ vào một thang máy trung ương, đem bán ở tiệm tạp hóa phía dưới. Những hệ thống lắp trên trần, theo dõi và kiểm sóat ẩm độ , nhiệt độ và phân phối dưỡng liệu.

B) Những vòng tròn cây cỏ , mùa màng do rôbôt nuôi nấng

Nông dân các nước tân tiến đã đạt năng xuất mỗi ha 30 lần hơn , ở trang trại trồng nước so với nông nghiệp truyền thống. Ở nông trại thẳng đứng, máy móc chuyễn vận dưỡng liệu và cách phơi bày ánh sáng 24 tiếng đồng hồ ngày đêm, sẽ còn cải thiện năng xuất nhiều lần hơn nữa đó .

Thế nhưng không phải lọai cây cỏ nào cũng phản ứng tốt đẹp với cây trồng trong nước , trồng thủy sinh đâu nhé ! Rễ vài lòai cây , tỉ như khoai tây và cây có múi , cam quít – citrus , cần có môi trường hơi đặc đặc , chẳng hạn đất hay sợi dừa . Mô hình ở bài này, do hảng Canada OmegaGarden họa kiểu, cho thấy đã phải làm như vậy . Ở hệ thống tăng trưởng bánh xe Ferris , cây mọc trong những khay trải đầy đá – vermiculite lọng bọng ( hình 1 ) xếp theo kiểu xe đẩy – cart hình trụ ( hình 2 ) , quay tròn định kỳ, nhận chìm mỗi hàng cây vào trong máng dưỡng liệu – nutrient trough ( hình 3 ) .

Lưu ý là các bóng đèn LED tiết kiệm năng lượng , được làm ăn khớp với các làn sóng đặc thù cho mỗi loài cây thích thú ( tỉ như chỉ có làn sóng đỏ cho cải xà lách ) . Những cánh tay rô bôt trang bị những mủi -noses cơ học” hửi – sniff “ cây và thu họach chúng căn cứ trên sự hiện diện những alcohols đặc thù, một tiêu chuẩn đo lường chính xác độ chín cây hơn là màu sắc .

C ) Ông già MacDonald đã khóat áo la bô

Thực vật , cây cỏ không có hàng triệu năm , hầu thích nghi với chu kỳ tăng trưởng trong nước, mọc thủy sinh bên trong nhà . Do đó các nhà thực vật học phải tuyễn chọn , lai tuyễn những dòng mọc tốt nhất . Các nhà khoa học sẽ pha trộn các phân bón hóa học đặc biệt cho cây cỏ , khiến chúng phải chứa những dưỡng chất vi tiểu ( bần tố ) cần thiết cho chế độ ăn uống của con người , như selenium và kẻm chẳng hạn

Vì chỉ vài sâu bọ hay mầm bệnh cây là có thể phá tan mùa màng đóng kín trong nhà , cho nên nông dân vào nông trang nội ốc phải mặc những bộ áo quần ngừa phòng và phải đi qua những nút không khí – airlock . Các nhà khoa học phải bọc cây cỏ bằng những vi khuẩn sửa đổi công nghệ di truyền , rực sáng lên khi hiện diện sự đe dọa của bệnh hay dich bệnh , báo trước cho nông dân biết những bùng nổ tai họa .

Nuôi súc vật hiện nay rất thiếu hửu hiệu . Chỉ 3 % năng lượng được sử dụng nuôi bò cái là biến thành protêin ở đĩa ăn bạn . Thay vào đó , các nhà khoa học sẽ nuôi trồng những miếng thịt trong la bô , từ tế bào gốc gà , heo hay bò cái, cấy nuôi trong một môi trường gồm nước , glucose và protein thiên nhiên . Hầu làm cho gần đúng cơ cấu của thịt , họ sẽ bắt cơ bắp tập “ thể dục – exercise “ theo những nhịp – pulses điện . Cơ cấu của thịt bít tết ngon lành – porterhouse còn quá phức tạp để sao chép , nhưng giò chả – sausage hay cục thịt gà nho nhỏ- nuggets , sẽ làm được dễ dàng, một chục năm tới .

D ) Mọi chuyện đều chạy bằng nước thải ống cống .

Nông trang thẳng đứng không chỉ là một nhà máy sản xuất . Đây cũng là một dự kiến tái vấn lại dây dợ cho hạ tầng cơ sở thành phố , đô thị ; bắt chước những chu trình tài nguyên thiên nhiên . Không đâu rỏ rệt cho bằng tầng hầm tháp cao ốc. Nơi đây các phế thải ống cống cung cấp cho nông trang những tài nguyên thiết yếu nhất : năng lượng và nước . Hệ thống bao quanh phế thải ống cống thành phố , sẽ được đưa về nông trang . Một nữa sẽ đi vào máy” Tinh bột đặc sệt – SlurryCarb “ do hảng Enertech , một công ty năng lượng xanh mới thành lập ở thành phố Atlanta , bang Georgia , Hoa Kỳ. Linh kiện hâm nóng và ép áp lực chất sệt ( hình 1 ) , đánh vỡ tan nó ra thành những thành phần cơ bản của chất sệt là carbon và nước . Máy sẽ chiết trích nước ( hình 2 ) và phần đặc , chấtt đặc sệt như than đá được đốt cháy , hầu chạy các nhà máy điện tua bin hơi nước ( hình 3 ) và tạo ra điện . Phần còn lại sẽ được trị bằng các hóa chất giết vi khuẩn và làm thành những đất mặt – top soil qua một tiến trình hâm nóng và sấy khô , do hảng N-Viro phát triễn. N- Viro là một hảng tái sinh chất đặc sinh học tọa lạc tại bang Ohio , Hoa Kỳ . Nước trích chiết từ cả hai tiến trình được lọc ( hình 4 ) qua những “tái trung gian sinh học _ remediators” thiên nhiên, tỉ như vỏ nghêu rằn – zebra mussels , cỏ nến – cattails hay cỏ cưa –sawgrass , làm sạch nước , cho đến khi nước dùng được trong nông nghiệp hay lọc sạch thêm làm nước uống . Bất cứ một phế thải nông trang nào cũng được làm cho mục – compostage , chế tạo phân bón hóa học và khí methane . . Khí methane có thể đốt cháy thành năng lượng .

Lưu ý thêm là nông trang thẳng đứng có thể chuyễn hóa 100 tấn phế thải ống cống, thành 19 megawatts điện . Gà ít tốn chỗ và sản xuất một cân Anh thịt sử dụng 2 cân Anh đồ ăn cho gà. Nuôi gà rất hiệu quả trên phương diện tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp đó !. Các láng giềng mua hàng hóa nông trang thẳng đứng ở tiệm tạp hóa , tầng sát mặt đất và các xe vận tải chạy điện , sẽ phân phối thực phẩm đến các chợ địa phương. .

( Irvine – Ca Li , Hoa kỳ giữa tháng 8 năm 2008 ).

Thử ước mơ vài kỹ thuật nông nghiệp tương lai,
thế kỷ 21 ?

G S Tôn Thất Trình

Tiếp theo nông nghiệp cao ốc và vài kỹ thuật cận đại cho thế giới 9 tỉ người sắp tới viết ra cách đây 2 năm , sau đây là mơ tưởng của vài nhà khoa học ở nguyệt san Khoa Học Phổ thông – Popular Science, số tháng 7 năm 2010:

1- Nông trại tả lót

Willem Van Cotthem thu hoạch siêu đất ( thổ nhưỡng ) sức mạnh của tả lót Pampers ( loại bán chạy nhất Hoa Kỳ hiện nay) biến đất đai dơ bẩn thành vườn tựợt màu mỡ. Khi được hỏi tới tưởng tượng xem Trái đất sẽ ra sao năm 2040 , rất nhiều nhà khoa học mô tả một bản kịch rất ư đen tối , một viễn cảnh lảnh địa trơ trụi và khô ran, không còn sinh sống được nữa. Nhưng đó không phải là cái nhìn của Willem van Cotthem, một nhà khoa học Bỉ chuyễn qua kinh doanh xã hội . “ Cây ăn trái nhiệt đới có thể trồng tốt ở những nơi nào khí hậu ấm áp “. Bạn vẫn cần nước , nhưng không quá nhiều đâu . Chỉ một trận mưa ngắn ngủi một lúc nào đó là đủ rồi. Và xem coi, từ đất cát, vườn tượt màu mỡ sẽ trồi lên như nấm.

Bí mật là hydrogel,một polymer hấp thụ, thu hút uy vũ, có thể hút nước hàng trăm lần hơn cân lựợng nó. Ngày nay hydtrogels có nhiều ứng dụng từ chế biến thực phẩm đến quét sạch các dầu lữa phun trào, nhưng ứng dụng phổ thống nhất lại là thành phần kỳ diệu của tả lót có thể thay được. Khác biệt là với hydrogels nông nghiệp chúng không những chỉ hút, bẩy nước, mà còn để nước thóat ra, chậm rì, như thể thuốc giải tỏa từ từ theo thời gian vậy đó, đến vùng rễ cây trồng. Nhờ liên tục có nước cho nên các địa cảnh mong manh, dễ vỡ như sa mạc chẳng hạn, có thể tái tạo mức phì nhiêu. Nước kích động một tiến trình khóang hóa, để đất đai giải tỏa các chất dinh dưỡng, làm lại đời sống cây cối .

Riêng chỉ có nước thôi. không thể biến cát thành vườn cây phong phú . Cho nên van Cotthem một giáo sư thực vật học danh dự tại đại học Ghent, nứớc Bỉ, người đã lảnh đạo nhiều pannen khoa học quốc tế nghiên cứu sa mạc hóa, đã phát minh ra một loại “ đất điều tiết – soil conditioner “ tên gọi là “Tera cottem – đất nung cottem “ . Đây là một lớp rác rưới dơ bẩn dày 20- 30cm thấm bằng hydrogels, song song với các tác nhân hửu cơ nuôi vi khuẩn- bacteria thiên nhiên trong đất.

Những thí nghiệm trước van Cotthem trên đất ông sáng kiến ra, đã đem lại kết quả tốt trên mọi lục địa, ngoại trừ vùng Nam Cực. Nơi nào có đặt Terracottem, những mảnh đất trơ trọi nay đã phì nhiêu và đã giúp cải thiện đời sống dân cư sở tại. Năm 2005, Cơ Quan Nhi Đồng Quốc Tế -UNICEF mời Cotthem giám sát xây dựng những “ vườn gia đình – family gardens “ tại những trại tị nạn vùng sa mạc Sahawari, nước Algêri. Từ năm 1975, hàng ngàn dân Phi Châu ở các trại trong lều vải, lều chỏng , tùy thuộc Chương Trình Thực Phẩm Thế Giới – World Food Program cung cấp cho họ các đồ khô và đồ hộp, một chế độ ăn uống làm họ dễ nhiễm bệnh. Ngày nay hơn 2000 vườn túi – pocket gardens cung cấp cho họ thực phẩm xanh tươi lành mạnh.

Bạn có thể tự hỏi tại sao một kỷ thuật kỳ diệu như thế lại không được phát triễn sớm hơn ? Vì thật tế tả lót thay được đã có mặt từ thập niên 1940, gần 70 năm rồi. Nhưng chỉ mới gần đây, loại hydrogels còn độc hại và những kẻ hoài nghi đã nghĩ rằng không bao giờ chúng lại làm cho an toàn, để sử dụng, tiêu thụ. Người hoài nghi nhất lại là van Cotthem, mãi cho đến ngày một kỷ sư khảo cứu từ hảng tả lót Đức vào la bô ông và nói với ông là anh ta đã bổ đôi dược vỏ hạch quả cứng rắn. Van Cotthem nói thẳng vào mặt anh ta: “ tôi không tin anh “ .

Kỷ sư trả lời : Được rồi “ Anh ta múc một muổng hydregel ra ăn. Cotthem sửng sốt , và nói với anh: Mong anh sẽ trở lại vài tháng tới, để tôi xem anh có còn sống không. Trong thời gian đó, Cotthem thử nghiệm các mẩu, thấy có kết quả hứa hẹn và bắt đầu khảo cứu những ứng dụng nông nghiệp của hàng trăm loại hydrogels khác nhau. Khi kỷ sư trở lại gặp ông, thì ông đã hoàn toàn bị thuyết phục rồi.

Thế nhưng đất đai mới không đủ, dân chúng còn cần vài thứ khác để trồng cây mọc tốt trên đất. Nhận thức là phân nữa thế giới này vất bỏ thường xuyên hột giống phân nữa thế giới kia cần dùng, van Cotthem cũng tung ra một tổ chức không vụ lợi gọi là “ Hột giống Đổi Thực Phẩm – Seeds for Foods “ yêu cầu dân chúng gửi thư chứa những hột giống họ không dùng trong thư. Van Cotthem cho biết là văn phòng ông nay tràn ngập hột giống bí ngô – pumpkin dân chúng gửi đến, sau ngày lễ Ma Quỉ -Halloween.

. Các nhà khoa học cũng đang thám hiểm những sử dụng khác biệt nhau của hydrogels. Sinh cường đất đai, theo họ tin như vậy, có thể là then chốt cách làm nông trại trên không gian. Công thức pha đơn giản : chỉ cần vài giọt nước và cẩm thạch trong như gương cung cấp giàn leo cho rễ trong đất. Van Cotthem giải thích : “ bổng nhiên , chúng ta có một loại đất đai giàu, có phương hổ trợ bất cứ điều gì . Nhưng tầm nhìn của ông hướng mạnh dạn hơn vào hệ thống tinh tú, hệ thống sao trên trời. Ông nói “ tôi nhìn thấy những khả năng tạo thành những đìều đáng kinh ngạc trên không gian “. Nhưng chúng ta hãy trước tiên giải quyết những bài toán tại Trái Đất; khởi sự bằng cống hiến cho mọi người, một cơ hội sản xuất thực phẩm cho chính mình . Và nay chúng ta chắc chắn là đã có cách có thể làm như vậy . “ Mùa khô, mùa nắng nước ta thiếu nước tưới tiêu, nên chú trọng khảo nghiệm những loại hydrogels nông nghiệp, tả lót , nhất là khi chúng ta đang bắt đầu công nghệ plastics – polymers ?

2 – Nhà điêu khắc cát sa mạc xây cất nhà trồng cây, làm vườn..

Sa mạc Sahara mỗi ngày một lấn chiếm mau chóng đồng cỏ nuôi súc vật. Cho nên kiến trúc sư Magnus Larsson đề nghị một bức tường ngăn cản hiện tượng cát lấn sa mạc hóa này, dài 3728 dặm Anh ( 5998 km ), do các vi khuẩn xây đắp lên.

Có thể nào một dự án một sinh viên kiến trúc lại giúp cứu vớt hàng triệu dân Phi Châu ngăn cản tiến triễn không ngừng sa mạc Sahara, một hiện tượng châm thêm dầu cho hạn hán, đói kém và nghèo khổ ? Sau đây là một dự án dân chúng đang bàn cải. Vay mượn từ một giải pháp cố làm cứng chặc hơn các nền nhà xây cất ở những vùng hay bị động đất, kiến trúc sư Thụy Điển Magnusd Larsson, 34 tuổi, đã đề nghị làm cứng rắn các độn cát ở bờ rìa dẫn đạo sa mạc Sahara, tạo ra một bức tường sinh sống được, chận đứng sa mạc dài 5998 km.

Kỳ quặc nhỉ ? Trên phương diện khoa học, phương pháp đã chứng minh. Các nhà khảo cứu viện đại học UC Davis, Bắc Ca Li, đã điều tra kỷ thuật, liên quan đến việc tiêm vi khuẩn Bacillus pasteurii vào đât đai bằng một pha trộn kiềm, giàu calcium, như thể là một phương cách cố định những vùng hay bị động đất. Ở La bô, kỷ thuật mới có thể làm cứng rắn 32 bộ vuông ( 2.897m2 ) đất vài giờ sau; dù rằng họ ước tính là sẽ cần vài tuần lễ mới làm cứng rắn được những diện tích lớn. Tính theo bề rộng địa lý, đề nghị Larsson đệ trình dự án năm cuối, khi ông còn học ở Hội Kiến trúc Luân Đôn, tương đương với kích thước dự án Bức Tường Xanh Sahara ,một sáng kiến 22 quốc gia đang xây dựng, hầu chế ngự sa mạc lấn tràn với một rào cản dày 9 dặm Anh, trồng cây trải dọc theo trên bề dài tương tự Larsson đang ngắm nhìn. Thật sự, Larsson xem dự án ông cốt để nâng đở Bức Tường Xanh này. Bức tường cứng chặc lại cát, có nơi dài 300m, sẽ cung cấp một căn bản cố định hơn cho cây trồng , cùng nhà cửa đúng kích thước đào trong đụn cát . Ở hình đồ Larsson, nhà cửa trông tựa hàng triệu căn nhà, mái xanh tươi, đương đầu sa mac. Theo Larsson. làm cứng rắn rất ít nguy hiểm cho môi trường hay sức khỏe con người, vì rằng nó dựa vào các vi trùng – vi khuẩn không độc hại hiện diện tự nhiên trong đầm lầy, đất ẩm thấp. Phương pháp của đại học UC Davis đơn giản thúc đẩy các vi trùng tiết ra thêm calcium carbonat, nối kết cát chặc chẻ vào nhau như xi măng vậy đó .

Hiện tại, Larsson đang cố tìm tài chánh cho những thử nghiệm đại trà, hầu chứng minh phương pháp của ông có hoạt động được không và theo cách nào. Dù cho phương pháp hửu hiệu, thực thi cũng là chán ngấy trên phương diện tài chánh. Ông nói : “ phí tổn chỉ là một hình thức khôi hài. Tỉ như hỏi rằng phí tổn xây cất Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc là bao nhiêu . Lẽ dĩ nhiên là không rẽ. Nhưng nghĩ lại, mọi dự án công trình đối đầu một thách thức tham vọng như thế, tức nhiên phải đắt tiền rồi “

Việt Nam có nhiều nơi có đụn cát bay , cát lấn chiếm nhất là đất trồng trọt phía sau, dọc các bờ biển miền Trung , tưởng cũng nên để ý đến các loại vi khuẩn tương tự Bacillus pasteurii này , cố định cứng rắn cho cát không còn bay được nữa và ở diện tích khá lớn, có cơ điêu khắc xây cất nhà ở , trên đụn đã cố định ?

( Irvine , Nam Ca Li , ngày 21 tháng 6 năm 2010 )

Nông dân, nông trại thẳng đứng, nông nghiệp cao ốc?

G S Tôn Thất Trình

Nơi ăn, chốn ở thích nghi là hai yêu cầu chính của mọi dân gian. Việt Nam chỉ mới thõa mãn phần nào ăn uống, nơi ăn, và mới bước vào giai đoan đầu kế sách chốn ở cho dân thị thành, chưa cải thiện nhà cửa lụp xụp nông thôn, thiếu hẳn mọi tiện nghi đời sống cận đại. Mâu thuẩn phát triễn nông thôn và thành thị cũng đã làm nhiều nhà kinh tế nông nghiệp than phiền nạn đô thị hóa, ngoai ô xâm chiếm đất trồng, nhất là đất phì nhiêu đồng bằng, thung lũng, trong khi sỉ số nông dân vẫn chưa giảm nhiều trên con đường công nghệ hóa, cận đại hóa xứ sở. Thế tại sao chúng ta lại không nghĩ đến những thị trấn, cao ốc trong nước, nuôi trồng thủy sinh – hydroponic, ép chặc những nông trang thênh thang trên và trong cao ốc, nhà chọc trời, khuynh hướng xây cất đại phố – metropolis ngày nay. Hầu nuôi thêm hàng triệu người và làm mát địa cầu?

Cựu phó tổng thống Mỹ Al Gore khẩn nài mọi người hãy trồng cây mộc trong sách “Sự thật Khó xài, Khó chịu – The Inconvenient Truth“. Nhưng ở đâu vậy? Dickson Desponnier, một nhà vi trùng học đại học nhóm Ivy League Columbia University hỏi lại, liệu chúng ta có thể trồng cây mộc (cây gỗ) không? Khi các nhà khoa học gợi ý rằng nỗi ngày mỗi thấy thêm rừng thế giới trở thành nông trang, nông trại, để hổ trợ dân số đang nổ tung, đang tăng trưởng? Khỏang 41% đất đai trên địa cầu, ngày nay đươc sử dụng làm nông nghiệp. Thế nhưng tăng trưởng sỉ số sẽ lên đến 6.7 tỉ người hiện tại, đến ước lượng là 9.2 tỉ vào năm 2050, đa số sống ở thị trấn, thành phố. Despommier luận cứ là cách duy nhất để dành chỗ cho đủ số cây mộc giam hảm carbon sequestration, chuyễn ngược vấn nạn hâm nóng địa cầu là thay đổi cách chúng ta trồng trọt. Triệt để, tận gốc.

Despommier viễn tượng những khối nông trang thẳng đứng – vertical farms, trên những thành phố lớn thế giới, mỗi dinh thự cao 30 tầng (là cao ốc chúng ta đang dự trù xây ở Hà Nội, Sàigòn), cung cấp đủ thực phẩm và nước cho 50 000 người một năm, mà không có phế thải. Ông đang thảo luận với các nhà đầu tư tiềm thế xây cất một mẩu mực đầu tiên. Despommier cũng ở trong ban quản trị công ty New York Sun Works, một hảng công nghệ thân thiện môi sinh ở Manhattan. Nơi đó vào tháng 5 năm 2007, đã biểu diễn một khái niệm tương tự, nhưng nhỏ hơn về nông trại thành phố, trên một ghe nổi.

Hỏi (H): Tại sao ông lại nảy ra ý kiến đặt một nông trại trên nhà chọc trời?

Trả lời (T L): cách đây 8 năm, tôi hỏi các sinh viên học trò tôi hãy đem lại những ý kiến về bền vững thành thị. Họ đã đề nghị 7 ha đất trồng trọt được trên mái nhà ở Manhattan. Chúng tôi hình dung ra là như thế sẽ chỉ nuôi được 2% dân thành phô’. Cho nên tôi nói: hãy lấy 1723 xây cất phế bỏ ở Manhattan, sửa đổi chúng lại và làm nuôi trồng nước – hydroponics. Rồi tôi lại nói: Hãy quên đi tiền bạc, không gian, thời giờ và họa kiểu một xây cấy nuôi thêm nước cho 50 000 người một năm. Tôi muốn các cá nhân ăn 2000 calories một ngày và uống nước tạo ra bằng bốc thóat hơi nước – evapotranspiration.

H: có nghĩa là nước từ cây cối?

T L: Đúng vậy. Nước cô đọng từ lá, ngay cả khi bạn đưa nước vào trong rễ. Nếu bạn có một nông trang kích thước bằng một khu, khối xây cất – block thị trấn, các cây bên trong đó có thể sản xuất đủ nước cho khỏang 50 000 người.

H: vậy nước tưới tiêu từ đâu lại?

T L: từ nước thải. Trước hết, bạn khử cặn nước thải. Rồi bạn lọc nó, xuyên qua những cây cối rào cản không ăn được và lọc lần nữa qua một thápcon sò rằn – zebra mussels, là sinh vật lọc nước tốt nhất vùng này. Sau đó nước sẽ trong trắng ngần.

H: Có bao nhiêu lọai cây ăn trái và rau đậu bạn sẽ trồng bên trong xây cất?

T L: Hơn 100 lọai – dâu tây, sồi xanh dương – blueberries, và ngaycả chuối tiểu muội – miniature banana. Chúng tôi có một danh sách từ NASA về các sản phẩm có thể sản xuất bên trong xây cất. Thật ra NASA đã có một chương trình to lớn cây cỏ trồng trong nước, trồng thủy sinh. Vì không có gì lấy ở ngòai được trên Sao Hỏa và bạn cũng không thể cung cấp cho phi hành đòan một miếng bánh nướng pizza. Công nghệ di truyền và tuyễn chọn nhân tạo cũng đóng một vai trò quan trọng trong nông nghiệp trồng trọt thẳng đứng. Vì có rất nhiều cây cối tỉ như bắp (ngô) truyền thống chúng ta vẫn chưa biết cách trồng trong nhà.

H: chống trả nạn hâm nóng tòan cầu như thế nào?

T L: Mọi báo cáo các chành quyền thế giới đều nói cùng một luận điệu như nhau cả: kẻ làm ô nhiễm nhất là nông nghiệp. Tôi thích nhìn cánh đồng lúa mì, nhưng cánh đồng này là một tráo đổi quá lớn cho việc trồng trọt lương thực ngòai thị trấn, ngòai thành phố. (chú thích: vào cuối thập niên 1980, ở Lương Nông Quốc tế- FAO Roma, Ý, chương trình lúa nước ở các nước Á châu bị các chuyên viên môi sinh Âu Mỹ chỉ đề cao lúa khô – lúa rẫy năng xuất rất kém cõi, chỉ trích mảnh liệt vì lúa nước tạo ra thêm khí methane, môt khí nhà kiếng, nhưng sau đó chương trình đo khí methane ruộng lúa nước ở Trung tâm lúa gạo quốc tế IRRI, cho thấy là ruộng nước làm phát sinh methane còn ít hơn là để đồng lầy nước đọng nguyên sơ, thêm đầy rẫy quăn quăn muỗi sốt rét. Và còn thải ra ít methane hơn cả chăn nuôi bò kiểu Âu Mỹ!) 40.5% đất đai địa cầu dùng làm nông nghiệp. Khi dân số tăng thêm, yêu cầu lương thực gia tăng và rừng bị phá để trồng trọt (đặc biệt là các rừng mưa nhiệt đới vùng lưu vưc sông Amazonie, Brasil). Hãy thử một thay thế cho nông nghiệp truyền thống, thế là chúng ta đã có một sách lược giam hảm khí carbon dioxide: đó là trồng cây mộc.

H : Phí tổn vụ này là bao nhiêu?

T L: Nông trang thẳng đứng đầu tiên sẽ tốn mấy tỉ đô la Mỹ. Tôi viễn tượng như sau: cây sẽ đặt trên một đai dây chuyền tự động, di chuyễn qua ánh sáng cố định giúp cho cây tăng trưởng và những hệ thống cung cấp các chất dinh dưỡng cũng tự động. Những xây cất đầu tiên cần được trợ cấp, với những khích lệ năng lượng và khích lệ thuế khóa. Chúng tôi muốn nó được trợ cấp tương tự hỏa tiễn Saturn .

H: khi nào có thể nhìn thấy nông trang đầu tiên?

T L: Nếu đủ tài chánh sẽ có một kiểu mẩu trong 5 – 10 năm tới. Tôi hy vọng sẽ sống đến 106 tuổi, để thấy các nhà chọc trời điểm đầy các nông trang này.

Tương lai của nông dân châu Á khi gia nhập WTO

(Cập nhật: 19-01-11)

Đến nay, các nước châu Á vẫn còn phấn đấu tự túc lúa gạo và một số loại cây lương thực cơ bản khác. Khi gia nhập WTO, buộc phải mở cửa thị trường để nhập khẩu lương thực với giá rẽ, đều này sẽ ảnh hưởng đến nông dân châu Á trong tương lai.

1 Nhìn lại sản xuất lương thực châu Á

Duy trì an ninh và tư túc lương thực là nhiệm vụ hàng đầu của nhiều chính phủ châu Á. Các nước này rất quan tâm đến tự túc lương thực, đặc biệt đối với lúa gạo. Trong vài thập niên vừa qua, nhiều nước châu Á đã thành công trong tự túc lương thực, thậm chí một số nước đã tiến đến xuất khẩu như Việt Nam .

Gia nhập WTO đã mở đầu cho kỹ nguyên mới của tự do hóa thương mại toàn cầu. Các nước châu Á chẳng những không thể bảo hộ thị trường nội địa, để khỏi phải nhập khẩu lương thực với giá rẽ mà còn hạn chế trợ giá cũng như hỗ trợ sản xuất cho nông dân.

Một khó khăn nghiêm trọng vấp phải khi gia nhập WTO là tương lai của nông dân. Theo truyến thống, nền nông nghiệp của các nước châu Á dựa trên nền tảng của các tiểu nông sử dụng lao động gia đình là chính. Tuy nhiên khi gia nhập WTO chính sách nông nghiệp của các nước này phải theo hướng thị trường, điều này chỉ thích hợp đối với những trang trại qui mô lớn hơn là sản xuất nhỏ manh mún. Những nông dân này phải tự vận động để tìm ra phương cách thích nghi với thị trường tự do hóa. Đó là lý do mà nhiều hội nghị quốc tế thảo luận tìm ra giải pháp để các nước châu Á vẫn giữ đuợc an ninh lương thực trong điều kiện tự do hóa thương mại, tìm ra những chính sách hoặc chương trình hỗ trợ cho nông dân thích nghi đuợc môi trường trên.

2. An ninh lương thực khi gia nhập WTO

Hầu hết các nước châu Á đều có bài học kinh nghiệm đắt giá trong quá khứ về thiếu hụt lương thực và âm hưởng của nó vẫn còn âm vang đến thế kỹ 21. Với bài học trên, an ninh lương thực là mối quan tâm hàng đầu của các nước. Một số nhà kinh tế châu Á đều cảm thấy nghị định WTO gây bất lợi cho an ninh lương thực

Tuy nhiên một quan điểm khác lại rất lạc quan. Các nước châu Á vẫn tiếp tục duy trì tình trạng ổn định và sản xuất đủ gạo sau khi gia nhập WTO, ngay cả có nhập khẩu một ít. Có nhiều bằng chứng về giá lương thực trong thời gian qua khi tham gia tự do thương mại thì càng ổn định. Trước kia chính phủ các nước đều đặt mục tiêu tự túc lương thực và bảo hộ thị trường trong nước, đôi khi phải xuất ngân sách khá lớn để

mua gạo khi gặp thiên tai. Điều này có tác động bất lợi, làm giá gạo trên thế giới tăng đột biến. Nếu tất cả các nước đều tham gia WTO sẽ giảm thiểu tối đa biến động này. Nếu giá và lượng gạo và lương thực dự trử trên thực tế trở nên ngày càng ổn định, khi đó những lo lắng về an ninh lương thực sẽ đuợc trút bỏ, và các nước châu Á sẽ bớt băn khoăn về tự túc lúa gạo.

Cố gắng duy trì tự túc gạo trên nền sản xuất nông nghiệp manh mún có lẽ không phải là chiến lược tốt, sẽ vào thế bất lợi khi cạnh tranh bình đẳng. Thâm canh những loại có giá trị kinh tế cao như trái cây, rau quả nhiệt đới tỏ ra thích hợp hơn đối với các tiểu nông. Có lẽ các nước châu Á nên chuyển mục tiêu từ tự túc lương thực sang tự túc nông nghiệp, nhập khẩu gạo và xuất khẩu cây trái có giá trị cao.

3. Tính bền vững của nông hộ

3.1 Đóng góp kinh tế xã hội của nông hộ

Nhiều nước châu Á, vai trò của nông hộ gắn chặt với biến động kinh tế, đóng góp đáng kể cho ngân sách. Họ còn đóng góp khác, đóng góp môi trường. Như tại Nhật Bản, thuế môi trường cho phần sử dụng nước và đất đánh trên ruộng lúa ước lượng 4.600 tỷ yen (42,2 tỷ USD), chưa kể giá trị nông sản mà họ sản xuất. Đóng góp này rất quan trọng trong phòng ngừa khắc phục cái thiên tai như lũ lụt, mưa bảo, đất trượt…cũng như xây dựng cái hồ trữ nước phục vụ cho sinh họat, tưới tiêu…và nhiều sản phẩm có giá trị tái tạo khác

Hơn nữa, cái tiểu nông thường có tận dụng lao động gia đình. Điều này rất có lợi nếu ngành công nghiệp địa phương chưa thu hút lao động thừa ở nông thôn do còn phát triển kém. Canh tác nông hộ góp phần làm giảm áp lực đô thị như nhà ở, việc làm. Thu hút lao động ở các nông trang trại góp phần vào ổn định kinh tế cả nước.

Một số nước như Philippines, cấm chuyển đổi đất trồng lúa cao sản sang sử dụng mục đích khác, tuy nhiên đất lúa rẩy vẫn có thể có thể chuyển đổi đuợc. Nông dân trồng lúa phản ứng gay gắt trước lệnh cấm này vì nó làm giảm giá đất mà họ sở hữu.

Một quan điểm khác về tính bền vững của các tiểu nông, cho rằng lợi tức của họ tất nhiên thấp, vì vậy nguồn tài sản của họ không đáng kể. Theo quan điểm trên, các nông dân này còn tương đối nghèo, đóng góp xã hội không đáng bao nhiêu

3.2 Gia tăng thu nhập nông hộ.

Để các nông hộ trở nên bền vững thì lợi tức của họ ngày càng khá hơn, đời sống ngày càng cải thiện. Tất cả các nước châu Á đều đang tiến hành công nghiệp hóa với các tốc độ khác nhau, nhưng tình trạng phổ biến là thu nhập của cư dân thành thị tăng nhanh hơn nông thôn rất nhiều. Hiệp định WTO khi mở cửa thị trường nội địa để nhập khẩu lương thực với giá rẽ hơn ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân nhiều nước châu Á.

Hỗ trợ trực tiếp cho nông dân vẫn đuợc phép khi gia nhập WTO, nhưng phải tuân thủ một số trở ngại. Một vần đề là hỗ trợ phải thật cần thiết như hỗ trợ dành cho nông dân nghèo ở vùng núi, làm ruộng bậc thang. Tuy nhiên, những nông dân canh tác trên đất bạc màu khó nhận đuợc hỗ trợ

Nông nghiệp du lịch và nông nghiệp hữu cơ là trào lưu mới và tăng thu nhập cho nông dân. Trong nông nghiệp du lịch, các cư dân thành thị thường đến và ở các trang trại, nghỉ ở nhà nông dân hay nhà nghỉ gần đó. Mặc dù điều này giống như kỳ nghỉ hè nhưng họ thích tham gia các công việc đồng áng, giúp nông dân gieo cấp, thu hoạch. Cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều có chương trình cho vay với lãi suất thấp hỗ trợ cho nông dân xây dựng các cơ sở phục vụ cho du lịch. Du lịch nông nghiệp hay du lịch xanh không những đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, yên tỉnh, gần gủi thiên nhiên mà còn tạ dòng chảy tiền tệ từ thành thị về nông thôn.

Chất lượng hay an toàn thực phẩm ngày càng đuợc xã hội quan tâm. Trước kia, sản xuất nông nghiệp chỉ quan tâm đến số lượng và năng suất, thì ngày nay lại quan tâm đến chất lượng, an toàn và sản phẩm phải có mùi vị đặc trưng nhằm đáp ứng nhu cầu của thành thị. Nông nghiệp hữu cơ là hướng chuyển dịch để thỏa mản nhu cầu này.

4 Kết luận

Sau khi gia nhập WTO, việc tìm ra phương cách giải quyết các khó khăn phát sinh không đơm giản. Mỗi nước phải tự tìm ra phương cách thích hợp cho riêng mình. Nông nghiệp của một số nước có lẽ hưởng lợi trực tiếp khi gia nhập WTO. Thái Lan. Malaysia là 2 nước xuất khẩu nông nghiệp hy vọng hưởng lợi khi gia nhập, điều này tương tự đối với Việt Nam và Cambodia. Mục tiêu chiến lược của các nước này là hỗ trợ cho các nông dân vùng sâu vùng xa có thu nhập thấp và điều tiết thu nhập giữa cư dân nông thôn và thành thị. Vào thời điểm hiện tại, phát triển công nghiệp đang mang lại lợi ích cho một bộ phận cư dân, trong khi nông dân thu nhập thấp bị bỏ rơi.

Những nước khác như Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ có thích nghi đáng kể để duy trì nền nông nghiệp phát triển. Tuy nhiên ngay cả khi không gia nhập, vần đề dân số già cổi ở các nước này, khoảng cách thu nhập giữa dân thành thị và nông thôn sẽ tạo ra sự thay đổi đáng kể cấu trúc nông nghiệp trong vài thập niên tới.

Đối với những nước giải quyết tình hình an ninh lương thực bằng cách nhập khẩu, đặc biệt là lúa, sẽ phụ thuộc lớn vào giá và lượng lúa lưu thông trên thị trường thế giới. Vấn đề tranh luận là liệu lượng lúa hàng hóa có ổn định với WTO. Nền công nghiệp chăn nuôi khá phát triển ở hầu hết các nước châu Á sẽ tạo giải pháp giải quyết tình huống, khi lương thực đột ngột thiếu, một phần nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc sẽ chuyển qua làm lương thực cho người. Tự do hóa thương mại có nghĩa tạo an ninh lương thực lớn cho tất cả mọi người, tất cả đều có cơ hội tiếp cận kho dự trữ nhanh chóng với giá hợp lý

Nông hộ châu Á rất đuợc quan tâm về mặt văn hóa xã hội nhưng không đuợc quan tâm về kinh tế. Nên nhớ kinh tế đuợc thiết lập để phục vụ cho con người, không vì mục đích khác, và các chính sách nông nghiệp phải phản ảnh nhu cầu xã hội. Các mô hình kinh tế tỏ ra không phù hợp đối với các yếu tố phi kinh tế. Điển hình, trong nông hộ có mối quan hệ mật thiết với người già và trẻ em. Mối quan hệ này giúp tăng cường ổn định xã hội, giảm số gian đình tan vở, ngăn ngừa tội phạm và giảm chi phí y tế cộng đồng. Nó không đuợc tính toán trong các mô hình kinh tế, trong khi các nước phương tây nó lại có chi phí rất cao cả trực tiếp lẫn gián tiếp. Để xã hội các nước châu Á ổn định hơn, cần quan tâm chẳng những đến nông hộ mà cả thành viên trong nông hộ, nó thường bị bỏ quên khi tính toán giá thành và lợi nhuận trong các báo cáo kinh tế.

Ths. Nguyễn Phước Tuyên

TT Khuyến nông & KTNN Đồng Tháp

Nông nghiệp Việt Nam 2011: Hướng đến chân trời mới

Tháng Hai 8, 2011

tags: chan troi moi, huong den, nong nghiep, Viet Nam

bởi nongdan24g

Nhìn lại năm cũ, chúng ta rất tự hào với những gì đã đạt được: Nông nghiệp tăng trưởng 2,8% so với mức 1,8% năm 2009. Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất 4 năm nay, tăng 4%. Sản lượng khai thác thủy sản trên biển và nuôi trồng đều tăng 9%.

Xuất khẩu lúa gạo đạt mức kỷ lục 6,7 triệu tấn. Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt mức kỷ lục mới, hơn 19 tỷ USD, với 3 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD là thủy sản, đồ gỗ và gạo. Nông sản tiếp tục xuất siêu là đóng góp quan trọng cải thiện cán cân thương mại đang trong tình trạng thâm hụt kéo dài.

Tiếp tục vượt khó

Cuối năm 2010, chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển nông thôn được chính thức khởi động, đem lại niềm tin mới cho cư dân nông thôn. Bất chấp những khó khăn của nền kinh tế thế giới, đến cuối năm, tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn đã giảm xuống 12%, tỉ lệ hộ nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 83%, hộ dân có nhà vệ sinh đạt chuẩn là 60%. Bên cạnh các thành tựu to lớn trên, những thách thức của giai đoạn phát triển mới cũng bắt đầu lộ diện.

Đầu năm qua, khô hạn xảy ra gay gắt trên diện rộng ở miền Bắc và miền Trung, nước mặn xâm nhập sâu tại ĐBSCL. Tiếp đến, lũ lụt lớn ở miền Trung cho thấy biến đổi khí hậu đã bắt đầu làm ảnh hưởng xấu đến diễn biến thời tiết. Dịch bệnh cho gia súc, gia cầm vẫn luôn luôn rình rập. Trong thời gian tới, tình trạng khô hạn, thiếu nước mưa và nước ngầm sẽ tiếp tục là thách thức với sản xuất nông nghiệp. Nguồn nước tưới hạn chế và nguồn điện không ổn định thực sự là mối lo của nhà nông.

Ngược lại, trong mùa lũ, các đợt mưa tập trung sẽ gây ra lũ lớn kéo dài, nhất là ở những vùng chịu ảnh hưởng của tình trạng phá rừng và xây dựng thủy điện thiếu quy hoạch. Các biểu hiện thời tiết khắc nghiệt về nhiệt độ nóng và rét sẽ diễn ra phức tạp và mạnh mẽ hơn, tương tự như vậy là cường độ thời gian của mưa bão. Phòng chống thiên tai, đối phó với dịch bệnh sẽ là thách thức lớn của bà con nông dân.

Cùng với những khó khăn do hàng rào kỹ thuật ngày càng ngặt nghèo trên các thị trường thế giới, giá cả vật tư đầu vào và nông sản đầu ra sẽ tiếp tục biến động khó lường. Các biến động bất thường của kinh tế vĩ mô trong nước cũng như tình hình kinh tế thế giới cũng ảnh hưởng lớn tới đời sống của nông dân và sản xuất nông nghiệp. Lãi suất cao gây khó khăn cho doanh nghiệp vay vốn, tỉ giá chênh lệch làm hoạt động xuất nhập khẩu không dễ dàng. Thêm vào đó là những yếu kém kéo dài trong công tác quản lý chất lượng vật tư đầu vào và vệ sinh an toàn thực phẩm đầu ra làm hạn chế khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông sản.

Chân trời mới đang mở…

Nếu chúng ta biết khéo léo nắm bắt lấy thời cơ thì quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam sẽ có sắc thái khác biệt với nhiều nước đi trước, đó là: Công nghiệp hóa với tỉ lệ cư dân sống ở nông thôn còn tương đối cao, và tỉ trọng đóng góp của nông nghiệp trong kinh tế tương đối lớn.

Bên cạnh những khó khăn là những thuận lợi to lớn mới. Kể từ năm nay, kinh tế thế giới đang đi vào thời kỳ phục hồi, đặc biệt nhu cầu thương mại nông, lâm, thủy sản sẽ tăng dần mở ra thị trường cho hàng hóa nông nghiệp Việt Nam. Nhìn về dài hạn, giá nông sản tiếp tục giữ ở mức cao trong tương lai là cơ hội lớn cho những quốc gia có lợi thế về sản xuất nông nghiệp như Việt Nam.

Trong các phòng nghiên cứu, nhiều tiến bộ kỹ thuật đang hình thành. Nhiều giống cây trồng mới có khả năng chống chịu với bệnh tật và điều kiện khó khăn sẽ ra đời trong tương lai. Cùng với Chương trình Nông thôn mới bắt đầu được triển khai, nhiều chính sách và chủ trương mới của Đảng và Nhà nước hướng về nông thôn, hỗ trợ nông dân sẽ được áp dụng. Các cơ sở hạ tầng mới đặc biệt là hệ thống giao thông và thủy lợi ngày càng mở mang.

Tại Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới họp tại Davos tháng 1 này, những sáng kiến mới về liên kết công-tư thu hút mạnh đầu tư quốc tế vào lĩnh vực nông nghiệp, tạo cơ hội gắn kết những ngành hàng có lợi thế của Việt Nam với chuỗi thương mại toàn cầu. Một chân trời mới đang mở ra cho những nước có lợi thế về sản xuất nông nghiệp.

Nếu chúng ta biết khéo léo nắm bắt lấy thời cơ thì quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam sẽ có sắc thái khác biệt với nhiều nước đi trước, đó là: Công nghiệp hóa với tỉ lệ cư dân sống ở nông thôn còn tương đối cao, và tỉ trọng đóng góp của nông nghiệp trong kinh tế tương đối lớn.

Nền kinh tế của một nước Việt Nam công nghiệp hiện đại sẽ có phần đóng góp quan trọng của một nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn, có giá trị gia tăng cao. Kinh tế xã hội Việt Nam sẽ phát triển hài hòa, nông thôn đan xen và gắn kết với đô thị, công nghiệp phục vụ và phối hợp với nông nghiệp.

Ngành nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế mạnh, mà còn là hồn văn hóa dân tộc và là nôi phát triển sinh thái môi trường. Nổi bật lên trên tất cả chính là vai trò quyết định của người nông dân Việt Nam – con người của giai đoạn phát triển công nghiệp mới, có kỹ năng, có trí tuệ, có tác phong sản xuất kinh doanh của nền nông nghiệp lớn, hiện đại.

TS. Đặng Kim Sơn

(Viện Chính sách chiến lược Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)/Báo Dân Việt

Nông thôn Việt Nam tương lai

Với sức mạnh kỳ diệu của người nông dân Việt Nam, đất nước ta sẽ phát triển một nền nông nghiệp sinh thái hướng về xuất khẩu mà không cần đến những bảo hộ, trợ cấp bất bình đẳng.

Tương lai nằm trong tay thế hệ trẻ. Ảnh: Hoài Linh

Lá phổi xanh của đất nước

Ngày nay, vai trò quan trọng của nông nghiệp đã được nhìn nhận, nông nghiệp cung cấp lương thực và các nguyên liệu đầu vào cho các ngành. Lao động nông thôn là lực lượng lao động chính và vốn tích lũy từ nông nghiệp và kinh tế nông thôn là nguồn đầu tư quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá. Nông thôn còn là lá phổi xanh bảo vệ môi trường, là nơi quản lý, lưu giữ và phát triển tài nguyên, văn hóa dân tộc, là nơi hỗ trợ và bảo vệ người nghèo, người yếu thế để họ thoát khỏi đói nghèo và vươn lên làm chủ cuộc sống.

Mặc dù quan trọng như vậy nhưng nông thôn thế giới đang trong hai hoàn cảnh trái ngược. Ở các nước nghèo, đang phát triển ở Nam Á, châu Phi, nông thôn là nơi cư trú của hàng trăm triệu người thường xuyên phải đối mặt với tình trạng đói nghèo, thất học. Nông thôn bao la bị bỏ lại lạc hậu về cơ sở hạ tầng, dịch vụ, trình độ sản xuất, bị tách khỏi hoạt động của thị trường, bị đè nén về quyền lực chính trị. Hơn hai phần ba số người nghèo của các nước đang phát triển sống tại nông thôn.

Đối nghịch với đô thị và công nghiệp hiện đại gắn liền với những lợi ích của một thế giới toàn cầu hóa, đông đảo nông dân buộc phải đòi lại công bằng cho mình bằng cách cầm vũ khí tham gia các lực lượng tôn giáo cực đoan, các cuộc ly khai lãnh thổ, các xung đột sắc tộc kéo dài triền miên. Rút cục, cả thị dân và nông dân đều thiệt hại. Vì vậy, một tỷ người đang sống tại các quốc gia nghèo nhất và bị cô lập nhất, hầu hết ở châu Phi Hạ Sahara, Nam và Trung Á, chỉ sống sót với chưa đầy 2% của cải của thế giới.

Thu nhập là thách thức

Trong khi đó, một chân trời khác cũng đang mở ra cho hàng trăm triệu nông dân ở các nước phát triển. Trong khi được tận hưởng không gian và môi trường trong lành mà đông đảo thị dân phải thèm khát, người nông dân được chính phủ trợ cấp bằng thuế đánh vào công nghiệp và kinh tế đô thị để có thể trang bị máy móc cơ giới và áp dụng các công nghệ hiện đại phát triển sản xuất, bán hàng hóa trên một thị trường được bảo vệ nghiêm ngặt.

Quyền lợi chính trị của những người nông dân này được bảo vệ ở mức tối đa. Các chính phủ của các nước công nghiệp kiên quyết thực hiện các cam kết với nông dân dù phải chống lại nguyện vọng của nhân dân thế giới đòi hỏi tự do hóa thương mại trong nông nghiệp, bảo vệ môi trường và chống lại quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra.

Ở châu Âu, Bắc Mỹ, những diện tích canh tác nông nghiệp màu mỡ mênh mông được chính phủ trợ cấp để nông dân bỏ mặc không canh tác. Ở Nhật Bản, một khối lượng lương thực khổng lồ được nhà nước mua chứa vào kho hàng năm để rồi chuyển thành thức ăn gia súc. Đối với người nông dân ở nhiều nước, canh tác nông nghiệp là thú vui, là phương thức giải trí hơn là nguồn sống. Ở nhiều đô thị hiện đại, không ai nói đến vấn đề an toàn thực phẩm vì coi đó là sự đáp ứng hiển nhiên.

Để bước từ thế giới nghèo đói sang thế giới giàu có mà không bị tắc lại ở mức thu nhập trung bình là một thách thức to lớn. Quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu trong tương lai ngay trong thời gian gần sẽ tăng mức độ nghiêm trọng của các biến động thiên tai, thời tiết.

Theo giả thuyết lạc quan nhất (nước biển dâng 1m) hay bi quan nhất (nước dâng 5m), Việt Nam sẽ đứng hàng đầu hoặc thứ hai trong số các nước bị thiệt hại nặng nề nhất. Nếu nước biển dâng 1m, sẽ làm đảo lộn cuộc sống của 11% cư dân (là tỷ lệ cao nhất thế giới), làm giảm 10% GDP, làm mất 13% diện tích đất nông nghiệp và 10% diện tích đất đô thị.

Có một chân trời mới

Năm 2008, số người 65 tuổi trở lên trong dân số VN đã vượt qua mức 7% tổng dân số, chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số, vượt trước dự báo trước đây là năm 2015. Tình trạng đã xảy ra ở nhiều nước phát triển trên thế giới có thể lặp lại ở Việt Nam là người trẻ đổ về đô thị để lại ở nông thôn một cộng đồng người già không có sức sản xuất?

Ngày mai của nông thôn Việt Nam giữa hai chân trời khác biệt.

Dân số thế giới tăng nhanh từ 1,6 tỷ người năm 1900 lên 6,6 tỷ hiện nay và dự báo trong tương lai sẽ đạt 9 tỷ năm 2042. Trong suốt hơn 50 năm qua, sản lượng ngũ cốc đã tăng gấp ba lần nhưng vẫn không kịp với tốc độ tăng dân số của thế giới. Tốc độ tăng trưởng tiêu thụ lương thực nhanh hơn hẳn so với tốc độ tăng trưởng sản lượng. Trong khi đó, đất nông nghiệp trên thế giới chỉ chiếm 3% tổng diện tích, gần như không còn khả năng mở rộng thêm. Phần lớn các dự báo cho thấy giá lương thực và nông sản sẽ tăng trong tương lai và sản xuất nông nghiệp sẽ trở thành một ngành kinh tế rất có triển vọng.

Bên cạnh châu Âu, Bắc Mỹ, Đông Á, trong tương lai sẽ tiếp tục có thêm những địa bàn phát triển mới như các nước thuộc Liên Xô cũ, Trung Quốc, Đông Nam Á, Nam Mỹ… Phát triển kinh tế kèm theo nâng cao mức sống nhân dân sẽ là xu thế toàn cầu, mở ra thị trường mới cho sản phẩm nông nghiệp.

Nhu cầu về nông sản cho ngành công nghiệp chế biến sẽ phát triển nhanh như cao su cho ngành công nghiệp ô tô, gỗ phục vụ xây dựng và dân sinh, tơ sợi cho ngành công nghiệp dệt, sinh vật cảnh phát triển phục vụ giải trí. Nhu cầu về du lịch, thủ công mỹ nghệ, dịch vụ phục vụ đời sống cũng sẽ phát triển rất mạnh, mở ra triển vọng to lớn cho kinh tế nông thôn. Nhu cầu nông sản thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày cũng thay đổi, cơ cấu bữa ăn sẽ tăng dần các sản phẩm chăn nuôi, thủy sản, rau quả…

Hiện nay, tỷ lệ diện tích canh tác trên đầu người của Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới, khoảng 0,12ha, (so với Thái Lan là 0,36ha hay Campuchia là 0,48ha…) Nếu tiếp tục xu hướng hiện nay thì đến năm 2020, từ 10-15% đất nông nghiệp sẽ chuyển sang công nghiệp và đô thị.

Tương lai nằm chính trong tay chúng ta. Nếu bạn là người nông dân hôm nay, hãy hình dung một thực tế không xa là phần lớn những người xung quanh sẽ rời khỏi xóm làng, bước vào cuộc sống mới với những ngành nghề mới.

Đó là cả những người có sức lực, có trình độ và cả những người chưa biết làm ăn hiệu quả. Số ít người ở lại phải bắt tay vào sử dụng máy móc để canh tác, chăn nuôi trên quy mô lớn hơn, biết tập họp lại trong các tổ hợp tác, hội đoàn, cùng sản xuất, cùng buôn bán.

Đô thị, nhà máy, hoạt động dịch vụ sẽ đến với nông thôn. Thói quen và sở thích tiêu dùng trong sinh hoạt thường ngày của mỗi người sẽ thay đổi. Nếu mỗi người, mỗi gia đình, từng cộng đồng hiểu được điều đó, sẽ tự mình thay đổi với quá trình này. Cả người đi lẫn người ở sẽ học cách sống với xã hội hiện đại, cách làm việc với kỹ thuật mới, cách giao dịch với thị trường của đất nước công nghiệp hóa.

Với sức mạnh kỳ diệu của người nông dân Việt Nam, đất nước ta sẽ phát triển một nền nông nghiệp sinh thái hướng về xuất khẩu, mà không cần đến những bảo hộ, trợ cấp bất bình đẳng. Là một nước có lợi thế về sản xuất nông nghiệp, nông thôn Việt Nam có đầy đủ triển vọng để bước lên chân trời tươi sáng.

TS Đặng Kim Sơn

Hướng tới đảm bảo lương thực cho tương lai

Để nâng cao năng suất lúa, áp dụng cơ giới hoá vào sản xuất là rất quan trọng.

KTNT – Sức ép về dân số, biến đổi khí hậu, khoa học công nghệ không theo kịp thời đại và nhu cầu lương thực gia tăng kéo theo tình trạng nghèo đói đang trở thành nỗi lo của tất cả các quốc gia. Vì vậy, việc tìm ra giải pháp mang tính đột phá trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, tạo nguồn lương thực đảm bảo nhu cầu cho người dân là mối quan tâm hàng đầu. Đó cũng chính là một trong những mục tiêu quan trọng của Hội nghị quốc tế lúa gạo lần thứ 3 diễn ra tại Hà Nội.

Sức ép về lương thực lớn

Trong nhiều thập kỷ qua, nhờ sự nỗ lực của nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế, đứng đầu là hệ thống các cơ quan của Liên Hợp quốc, trong đó có Tổ chức Lương – Nông Liên Hợp quốc (FAO), sản xuất lúa gạo đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Năm 2009, diện tích lúa toàn thế giới đạt 161 triệu hecta với sản lượng 679 triệu tấn, năng suất 4,2 tấn/ha. So với năm 1961, diện tích lúa tăng 50 triệu hecta, sản lượng tăng 470 triệu tấn và năng suất tăng 2,25 lần. Trong đỏ, 10 năm gần đây, sản lượng lúa thế giới đã tăng 75 triệu tấn, chủ yếu là do áp dụng tiến bộ kỹ thuật. Với những nỗ lực và thành tựu to lớn đó, nhiều quốc gia đã tự túc được lương thực, góp phần bảo đảm an ninh lương thực cho khu vực và toàn cầu.

Song theo đánh giá của FAO, hiện thế giới vẫn có hơn một nửa dân số, tương đương với 3 tỉ người, phải sống dựa vào lúa gạo, trong đó có 925 triệu người bị đói và thiếu dinh dưỡng. Việc bảo đảm an ninh lương thực vẫn còn là một thách thức lớn mang tính toàn cầu.

TS. Zeigler, Tổng giám đốc Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) nhấn mạnh, khoảng 90% sản lượng gạo của toàn thế giới được sản xuất tại châu á nhưng lại có tới 65% dân số của châu lục này đang bị thiếu lương thực.

Không nằm ngoài những khó khăn chung đó, Việt Nam cũng đang đối mặt với không ít rủi ro, hạn chế trong sản xuất nông nghiệp. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Hiện sản lượng lúa của Việt Nam chiếm trên 90% cây lương thực có hạt, liên quan đến việc làm và thu nhập của khoảng 80% số hộ nông dân. Lúa gạo cung cấp khoảng 60% năng lượng trong khẩu phần ăn của người dân. Vì vậy, cây lúa hạt gạo luôn có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia”.

Để nâng cao năng suất lúa, áp dụng cơ giới hoá vào sản xuất là rất quan trọng.

Trong hơn 20 năm qua, sản xuất và kinh doanh lúa gạo của Việt Nam có nhiều cố gắng và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Sản xuất lúa gạo phát triển, đã đưa Việt Nam từ nước nhiều năm thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới; 22 năm qua đã xuất khẩu trên 75 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 23 tỷ USD. Thu nhập của người trồng lúa ngày càng được nâng lên.

Mặc dù vậy, sản xuất lương thực của Việt Nam, trong đó có lúa gạo, vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trong bối cảnh dân số tăng nhanh, đất nông nghiệp ngày càng suy giảm, nguồn nước hạn chế, thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh xảy ra với tần suất ngày càng cao và khốc liệt. Chính phủ Việt Nam xác định, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia lâu dài, trong mọi tình huống là một nội dung quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Việt Nam đang ra sức khắc phục những hạn chế, yếu kém trong sản xuất kinh doanh lúa gạo, trong đó tập trung thực hiện các chính sách giữ ổn định diện tích đất trồng lúa; tăng cường đầu tư cho hệ thống thuỷ lợi; đẩy mạnh cơ giới hoá trong sản xuất, chế biến; cải tiến về giống và đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong canh tác, phòng trừ sâu bệnh, giảm tổn thất trong và sau thu hoạch; gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ; nâng cao thu nhập cho người trồng lúa gắn với phát triển nông thôn ngày càng văn minh, hiện đại; đồng thời tích cực thực hiện các biện pháp hạn chế tác động của biến đổi khí hậu. Cùng với việc bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, Việt Nam sẵn sàng hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm của mình trong lĩnh vực này với cộng đồng quốc tế.

Chia sẻ kinh nghiệm

Theo nhận định của IRRI, nạn thiếu lương thực trên toàn thế giới đang đe dọa mạng sống của hơn 100 triệu người, vì thế thế giới cần sản xuất thêm 50 triệu tấn gạo vào năm 2015 để có thể đáp ứng được nhu cầu.

TS. Zeigler cho rằng, hiện nay việc đảm bảo an ninh lương thực của các nước đã không còn nằm trong khuôn khổ của từng quốc gia mà trở thành mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế. Do đó, nếu các nước không cùng nhau thống nhất đưa ra các giải pháp mang tính toàn cầu, cùng thực hiện thì việc đảm bảo lương thực cho người dân là rất khó. Điều này có nghĩa, tình trạng nghèo đói tiếp tục gia tăng và đồng nghĩa với việc các mục tiêu thiên niên kỷ sẽ khó đạt được. Hiện, đầu tư cho nông nghiệp của các nước rất khác nhau. Các nước đang phát triển phần lớn sống chủ yếu vào nông nghiệp song thu hút đầu tư vào lĩnh vực này quá khó khăn, việc hợp tác giữa các đối tác công – tư vẫn chưa mang lại nhiều hiệu quả. Vì thế, chỉ khi nào tất cả các nước có chung quan điểm, cùng thống nhất trong hành động, khi đó việc ổn định sản xuất lúa gạo mới mang lại hiệu quả cao. Nếu không có sự đa dạng và cải tiến trong kỹ thuật trồng lúa thì việc đảm bảo nguồn lương thực trong tương lai sẽ rất khó.

GS. Peter Timmer (Đại học Harvard – Hoa Kỳ) cũng cho rằng, trong cuộc chiến chống thiếu hụt lương thực, bằng cách tập hợp những ý tưởng cấp tiến nhất về tương lai ngành lúa gạo thông qua Hội nghị lần này, chúng ta có thể thúc đẩy tìm kiếm những giải pháp bền vững và toàn diện cho cuộc khủng hoảng lương thực thế giới đang diễn ra ngày càng trầm trọng. Ngoài ra, cần phải phân tích và nhận định đúng về những xu hướng phát triển lúa gạo và các lương thực khác trên thế giới. Một trong những xu hướng đáng quan tâm là sản xuất lúa ngoài lãnh thổ, mà các nước tiêu biểu như Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản đang thực hiện. Phương thức này bao gồm việc ký kết hợp đồng thuê ruộng đất, trồng lúa ở các nước khác, có khi ở thật xa, ví như ở châu Phi và Nam Mỹ.

TS. Tô Phúc Tường, chuyên viên khoa học cao cấp của IRRI chia sẻ, mối quan tâm hàng đầu tại hội nghị quốc tế lúa gạo lần thứ 3 là làm sao ứng dụng một cách toàn diện nhất tiến bộ trong di truyền, sinh học và công nghệ thông tin vào ngành sản xuất lúa gạo nhằm đem đến những lợi ích thiết thực nhất, phục vụ đối tượng chính là những người nghèo đang sống dựa vào nguồn lương thực này. Chia sẻ thông tin và mang đến một cầu nối gắn kết những khác biệt về mặt chính trị là vũ khí tốt nhất để chống lại sự bùng nổ của nạn thiếu lương thực. Kể từ những năm 1960, tiến bộ trong ngành khoa học lúa gạo đã giúp năng suất lúa trên thế giới tăng gấp đôi, đẩy lùi nạn đói. Tuy nhiên, vẫn cần nhiều nghiên cứu nhằm tăng sản lượng, năng suất.

Đánh giá vai trò của sự hợp tác quốc tế trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Cao Đức Phát nói: “Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn nhận được sự hợp tác và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. IRRI và FAO đã giúp chúng tôi về giống và kỹ thuật. Nhiều nước và tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ đã tư vấn cho chúng tôi về đổi mới chính sách. Chính những định hướng đó đã đóng vai trò quan trọng, tạo nên những thành tựu về sản xuất lúa gạo mà Việt Nam đạt được”.

Chia sẻ với đại biểu quốc tế về những thành tựu mà nền nông nghiệp Việt Nam đạt được trong những năm qua, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết: “Để đảm bảo an ninh lương thực, hàng loạt các giải pháp từ chính sách, đầu tư, khoa học và công nghệ đã và sẽ được ban hành. Trước hết, Việt Nam tiến hành cải cách sâu rộng theo cơ chế thị trường, đảm bảo lợi ích của nông dân, giao quyền sử dụng đất lâu dài, tạo điều kiện cho nông dân chủ động sản xuất có hiệu quả cao hơn. Song song đó, Việt Nam tăng cường đầu tư cho hệ thống thủy lợi, đảm bảo tưới tiêu chủ động cho trên 70% diện tích trồng lúa. Nhờ chương trình này, đã tạo điều kiện ngọt hóa 2 triệu hecta đất phèn, ngăn mặn và giữ ngọt để gieo trồng 2 -3 vụ lúa/năm”.

Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn hiện nay

15/08/2010

By Dế Trũi

Tạp chí Cộng sản, 6-8-2010 – Đô thị hóa và công nghiệp hóa sẽ nuốt dần “miếng bánh pho – mát” ruộng đất nông nghiệp, nhưng không có nghĩa nông nghiệp hết tương lai trong xã hội hiện đại. Chuyển dịch cơ cấu (CDCC) nông nghiệp, nông thôn là cách thức ứng xử tích cực để tiếp tục tồn tại và phát triển phù hợp trong bối cảnh mới. Nhất là với Hà Nội, nơi đất chật người đông, tấc đất tấc vàng, dù đã mở rộng diện tích lên gần gấp rưỡi.

Dù đạt được thành tựu nổi bật trong thời gian qua (tăng trưởng về diện tích, quy mô, sản lượng, chủng loại các sản phẩm nông nghiệp, thậm chí nhiều nông sản được xuất khẩu sang thị trường các nước với kim ngạch và thị phần lớn), nhưng về căn bản, cơ cấu nông nghiệp nước ta chưa có thay đổi về chất. Chủ yếu chúng ta vẫn xuất nông sản dưới dạng thô hoặc sơ chế, hàm lượng dinh dưỡng thấp, giá trị hàng hóa so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường thế giới luôn bị thua thiệt. Giá gạo của ta thường thấp, thua với gạo Thái Lan, giá cà-phê cũng thấp hơn so với cà phê Bra-xin.

Ngoài lý do thương hiệu và kênh phân phối, tiếp thị yếu kém thì có vấn đề trong khâu chọn lọc giống, chủng loại và cải tiến chất lượng, đầu tư cơ giới hóa sản xuất, công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch có vấn đề. Kết quả là giá trị nông sản hàng hóa trên một đơn vị diện tích (héc-ta gieo trồng) cũng như năng suất của lao động nông nghiệp nước ta rất thấp. Ở một số nước, 1 lao động nông nghiệp có thể cung cấp nông phẩm cho 6-7-8 thậm chí 20-30-40 người phi nông nghiệp; Mỹ chỉ có gần 2% số dân làm nông nghiệp trong 240 triệu người; Hà Lan có 4 triệu héc-ta đất nông nghiệp nhưng xuất khẩu nông phẩm tới 17 tỉ USD/năm, đạt bình quân giá trị xuất khẩu 4 triệu USD/ha đất canh tác. Trong khi ở nước ta, mỗi lao động nông nghiệp chỉ cung cấp nông phẩm cho 2 – 3 người và đang phấn đấuxây dựng cánh đồng 50 triệu – 100 triệu đồng/ha.Rõ ràng, chúng ta đang khai thác phí phạm và thiếu trách nhiệm, thiếu bền vững những nguồn tài nguyên tự nhiên quý giá và không thể tái tạo.

Do đó, tất yếu phải CDCC theo hướng xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao, giá trị cao (NNCLC, GTC). Đó cũng là xu hướng của thế giới ngày nay. Để làm điều đó, cần chú trọng đầu tư nghiên cứu và khuyến khích chuyển giao, sử dụng các kết quả khoa học – công nghệ (KHCN) trong nông nghiệp, nhất là công nghệ cao và công nghệ sinh học. Nói công bằng, trong suốt mấy chục năm qua, nền nông nghiệp nước ta phát triển theo mô thức truyền thống, dựa chủ yếu vào hai yếu tố chính sách và thể chế (khoán và hợp tác xã nông nghiệp), còn KHCN tuy có nhiều đóng góp nhưng chưa thực sự trở thành động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng. Hiện nay, nếu không kịp thời gắn đổi mới cơ chế chính sách và thể chế với tiến bộ KHCN trong nông nghiệp, vô hình trung sẽ hạn chế phát triển, hoặc chính chúng ta sẽ tự trói buộc mình trong những giới hạn chật hẹp và đánh mất khả năng cạnh tranh trước các đối thủ tiềm tàng.

Một là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp không nên hiểu chỉ là áp dụng các tiến bộ của công nghệ thông tin, tự động hóa… vào chăn nuôi, trồng trọt; hơn thế, còn là thay đổi bản thân quy trình và công nghệ, các quy luật sinh học, tạo ra các giống cây con ngắn ngày, cho năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu thời tiết khắc nghiệt và kháng bệnh. Như vậy, một nền nông nghiệp CLC, GTC cũng đồng nghĩa với nền nông nghiệp công nghệ cao (CNC) – nền nông nghiệp ứng dụng phổ biến các thành tựu KHCN trong thâm canh sản xuất; bảo đảm sức cạnh tranh, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững. Nếu không áp dụng CNC thì không thể có những cánh đồng cà chua, rau sạch nuôi trồng thậm chí không cần đất, cho năng suất 300 tấn – 400 tấn/ha/năm. Nền NNCLC, GTC được đánh giá không thua kém so với nền công nghiệp công nghệ cao. Các nước I-xra-en, Đức, Nhật Bản… là những thí dụ như vậy.

Hai là, để phát triển nền NNCLC, GTC, trước tiên chúng ta cần tập trung giải quyết các khâu vốn và thị trường đầu ra. Đương nhiên, quy mô kinh tế hộ không có khả năng giải quyết những vấn đề này, mà chỉ có thể là những doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế có tiềm lực. Thứ nữa, cần lựa chọn bước đi và loại hình CNC cho phù hợp với điều kiện của ta. Cuối cùng, cần có chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng tốt đội ngũ các nhà khoa học trong lĩnh vực CNC. Về vốn, cần gia tăng đầu tư và đầu tư “đủ độ” cho nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KHCN trong nông nghiệp.

Một trong những hướng KHCN cần tập trung ưu tiên phát triển là ngành công nghệ sinh học. Chúng ta sẵn có những nguyên liệu quý như mía, sắn, ngô, khoai… dùng cho công nghệ sinh học; thậm chí những chất xơ tưởng như bỏ đi (cellulose) như rơm rạ, lau sậy, mùn cưa… được đường hóa nhờ vi sinh vật để tạo ra cồn nhằm thay thế cho các dạng năng lượng dầu mỏ, than đá, khí đốt đã cạn kiệt. Các nông sản làm ra không chỉ thỏa mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm, mà còn được dùng làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp đem lại lợi nhuận cao. Đó là sản xuất các sản phẩm mới của công nghệ sinh học, các sản phẩm phục vụ công nghiệp dược, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp dầu khí, công nghiệp môi trường. Ví dụ, từ bột sắn chế biến thành tinh bột biến tính như cồn khô, lớp thấm hút trong tã lót trẻ em…

Ba là, vấn đề nghiên cứu, phát triển cơ giới hóa khâu canh tác, công nghệ chế biến sau thu hoạch nhằm giảm nhẹ lao động nặng và nâng cao năng suất, gia tăng hàm lượng dinh dưỡng và giá trị hàng hóa, để bảo quản sản phẩm lâu dài cũng cần được quan tâm. Trong khi ta có nhiều bột cá, đậu tương, ngô hạt… nhưng vẫn phải nhập khẩu làm thức ăn chăn nuôi; nhiều nông sản vốn là thế mạnh của ta nhưng khi xuất khẩu bị ép giá hoặc trả lại vì không đạt yêu cầu. Phải chăng vì công nghệ chế biến yếu nên giá thành cao, quy cách và chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, chưa bảo đảm sạch? Gần đây, một số nông dân các địa phương tự phát mầy mò, sáng chế ra máy lựa đậu, cà-phê, tuốt ngô, lúa, gieo hạt, thu hoạch mùa màng… càng nói lên nhu cầu công nghiệp hóa nông nghiệp từ cuộc sống đã chín muồi, bức xúc đến nhường nào. Vấn đề chỉ còn thiếu một chính sách, chủ trương sát hợp và cơ chế cụ thể cho sự kết hợp lợi ích giữa các “nhà”: nhà nông – nhà khoa học – nhà đầu tư.

Trước mắt, cần khẩn trương nghiên cứu, chọn lọc và hoàn thiện Bộ giống chuẩn quốc gia về các cây lương thực chủ yếu. Thật vô lý khi Việt Nam là nhà xuất khẩu gạo lớn nhưng vẫn phụ thuộc giống vào bên ngoài: miền Bắc với Trung Quốc và miền Nam với Thái Lan. Theo các chuyên gia, trong tình hình thế giới khủng hoảng lương thực kéo dài, chúng ta nên tập trung vào nghiên cứu, phát triển các giống lúa cao sản, ngắn ngày, chịu được hạn hán thiên tai và kháng rầy… để cạnh tranh về số lượng và giá rẻ với gạo Thái Lan chất lượng cao nhưng năng suất thấp, giá thành đắt. Ngoài lúa, cũng cần hoàn thiện bộ giống các cây lương thực, thực phẩm khác phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Ở đây, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, phát minh về giống cũng như trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung, hình thành và phát triển thị trường KHCN sẽ có tác dụng đòn bẩy mạnh mẽ trên các phương diện: gắn KHCN với sản xuất, thúc đẩy KHCN và CDCC nông nghiệp. Trường hợp nhà nông học Nguyễn Thị Trâm theo đuổi nghiên cứu và phát minh các dòng lúa lai chất lượng cao cho nền nông nghiệp nước nhà là ví dụ sinh động. PGS.TS Nguyễn Thị Trâm nguyên là cán bộ giảng dạy Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội hiện nghỉ hưu, đã gặt hái được nhiều thành công trong nghiên cứu chuyển giao các dòng lúa lai năng suất cao, phẩm chất tốt được nông dân ưa chuộng. Trước đây, như giống lúa NN-9, NN-10, NN-23, NN-75-6, DH60, nếp thơm 44, 256; sau đó, lúa lai hai dòng mới như TH-3-4, TH3-5, TH3-11, TH5-1, TH6-3, TH2-3. Gần đây bà đã cho ra đời giống lúa lai hai dòng 100% “made in Vietnam” TH3-3 và chuyển nhượng cho Công ty TNHH Cường Tân (Nam Định) với mức giá kỷ lục 10 tỉ đồng. Nhưng trước khi đưa ra chuyển nhượng, để ở nhà, thì mỗi năm bà cũng thu về hàng tỉ đồng nhờ bán giống. TH3-3 là giống lúa lai cho NS cao 6 – 8 tấn/ha với thời gian sinh trưởng ngắn 105 – 125 ngày, chịu được mọi loại đất trên mọi địa hình, chống chịu sâu bệnh, chất lượng gạo lại trắng thơm ngon dẻo.

Bốn là, chuyển dịch cơ cấu (CDCC) nông nghiệp sẽ là chưa đủ nếu không gắn với CDCC lao động – việc làm nông thôn. Hiện nay, ở Việt Nam CDCC nông nghiệp tuy có tiến bộ, giá trị nông nghiệp so với GDP cả nền kinh tế từ 26,62% (năm 1995) xuống 20,4% (năm 2006); nhưng CDCC lao động lại hết sức chậm trễ, có tới hơn 70% dân số làm nông nghiệp và 78% số dân vẫn sống dựa vào nghề nông. Nói trên ý nghĩa nào đó, nông nghiệp lúa nước vẫn phủ bóng dài và là cứu cánh, khiến cho phát triển các ngành nghề và dịch vụ chưa trở thành sự lựa chọn tất yếu. Mặt khác, việc dân cư tập trung trong nông nghiệp đang tạo bức xúc về mặt xã hội, nếu không xử lý thì đến lúc nào đó sẽ gây bùng phát mất ổn định. Nó cũng đồng nghĩa “miếng bánh pho-mát” nông nghiệp phải chia nhỏ ra cho nhiều người hay tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp và nghèo khổ trong nông thôn.

Vì vậy, trách nhiệm của Nhà nước là phải có chiến lược xử lý chủ động, tích cực vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động – việc làm trong nông thôn. Có thể có các kịch bản khác nhau cho chuyển dịch:

+ Chuyển dịch tuyệt đối – (a) đưa nông dân vào làm công nghiệp, dịch vụ ở thành thị; (b) xuất khẩu lao động nước ngoài; (c) xuất khẩu lao động trong nước (gia công và làm cho doanh nghiệp FDI);

+ Chuyển dịch tương đối – (d) ly nông bất ly hương: mở ra ngành nghề dịch vụ kết hợp ngay trong nông thôn.

Với bối cảnh mở cửa hiện nay, Việt Nam có thể và cần kết hợp cả bốn kịch bản trên sao cho hài hòa, uyển chuyển, đạt được hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất. Nhưng cần chuẩn bị tốt các điều kiện và phối hợp các hoạt động liên ngành, xã hội hóa công tác chuyển dịch này: đào tạo và chuẩn bị tốt tri thức, nghề nghiệp cho thế hệ trẻ nông thôn để đón bắt cơ hội việc làm; đàm phán và thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động để bảo vệ lợi ích người lao động; khuyến khích phát triển công nghiệp- dịch vụ theo cả hai hướng: sử dụng công nghệ cao và sử dụng công nghệ vừa, công nghệ sử dụng nhiều lao động; phát triển các trung tâm lớn, khu công nghiệp quy mô kết hợp với mở mang các cụm công nghiệp nhỏ và vừa, cụm công nghiệp làng nghề, doanh nghiệp tư nhân tại những vùng đông dân cư nhằm thu hút sử dụng được nhiều lao động nông thôn.

Năm là, đổi mới cơ chế về thủ tục hành chính (chuyển đổi, tách, sáp nhập, quản lý hộ khẩu và cấp chứng minh thư); cơ chế sang nhượng, cho thuê, chuyển đổi, tích tụ ruộng đất, kể cả góp đất hoặc Nhà nước đứng ra mua lại quyền sử dụng đất. Nhiều trường hợp, nông dân không thể ra đi chỉ vì ràng buộc vào mảnh ruộng không biết xử lý thế nào: “bỏ thì thương, vương thì tội”! Hình thành một thị trường lao động và đất đai được quản lý chặt chẽ, linh hoạt sẽ thúc đẩy phân công, CDCC lao động nói chung, cũng như CDCC lao động nông thôn nói riêng./.

TS. Hoàng Xuân Nghĩa, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Hà Nội

Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp bền vững và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

27/07/2010

By luan

1. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp bền vững

a, Kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển nông nghiệp bền vững

Trung Quốc là quốc gia có diện tích rộng và dấn số đông nhất thế giới. Trong quá khứ cũng như hiện tại, quá trình phát triển kinh tế – xã hội của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Việt Nam. Từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, nền nông nghiệp và kinh tế đã đạt được những thành tựu nhất định, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của khoa học công nghệ. Từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay, các khu phát triển nông nghiệp công nghệ cao, cơ sở hiện đại hóa nông nghiệp… được xây dựng ở hầu hết các tỉnh, thành phố và sử dụng công nghệ cao để cải tạo nông nghiệp truyền thống. Trung Quốc đã chọn công nghệ cao làm khâu đột phá trong phát triển nông nghiệp.Hiện nay, trình độ chung nền nông nghiệp Trung Quốc khá cao. Tỷ lệ tiến bộ khoa học – công nghệ nâng cao đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển ổn định liên tục của nền kinh tế nông thôn và nông nghiệp Trung Quốc.

Sản lượng một số nông sản phẩm của Trung Quốc đã và đang đứng đầu thế giới: Lương thực đứng vị trí số 1 (lúa gạo, lúa mỳ); ngô đứng thứ 2: đậu tương đứng thứ 3; bông, cây có dầu, các loại thịt, thức ăn gia cầm và các loại thủy sản đều đứng ở top đầu thế giới. Trung Quốc chỉ sử dụng 7% đất canh tác của thế giới nhưng đã nuôi sống 22% dân số thế giới.

Cùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ, Trung Quốc đã lần lượt ban hành Cương yếu kế hoạch nghiên cứu phát triển công nghệ cao và kế hoạch phối hợp đồng bộ với Chương trình bó đuốc, đã chọn được 7 lĩnh vực nông nghiệp của công nghệ sinh học, công nghệ thông tin làm trọng điểm, tổ chức lực lượng khoa học – công nghệ nòng cốt thúc đẩy khoa học – công nghệ nông nghiệp cao trong toàn quốc và giành được những tiến triển quan trọng và đột phá:

– Lĩnh vực công nghệ sinh học đã xây dựng được công nghệ sản xuất của hơn 60 loại hoa, lúa gạo, lúa mỳ, khoai tây, táo …đã được áp dụng thành công trên diện rộng về kỹ thuật cấy mô khử virut vào sản xuất theo kiểu công xưởng hóa, hiện nay đã thực hiện được thương phẩm hóa công nghệ này. Đã nhân bản vô tính gen hàng trăm loại, ứng dụng công nghệ chuyển nghép di truyền và thu được nhiều loại gen có các tính trạng khác nhau, sản xuất thử nghiệm điểm trình diễn hoặc trên đồng ruộng nhiều giống mới, và đã thành công đưa vào thị trường thương phẩm hóa. Trong lĩnh vực chăn nuôi, Trung Quốc đã thực hiện cấy ghép phôi thai đông lạnh đã áp dụng vào bò, cừu … và đang được thương mại hóa.

– Lĩnh vực công nghệ thông tin đã xây dựng được nhiều ngần hàng dự trữ thông tin nông nghiệp như ngần hàng dự trữ nông nghiệp, ngân hàng tài nguyên giống cây trồng, ngân hàng dữ liệu kết quả khoa học công nghệ nghề cá, ngân hàng dữ lueeyj thống kê kinh tế nông nghiệp. Các ngân hàng này đã được lưu giữ và khái thác mang tính hiệu quả kinh tế cao. Theo đà phát triển nhanh chóng của mạng Internet, Trung Quốc đã khởi động chương trình: Kim nông, Mạng thông tin nông nghiệp Trung Quốc, Mạng thông tin khoa học công nghệ nông nghiệp Trung Quốc và đã bắt đầu cung cấp những thông tin có liên quan để phục vụ cho nông nghiệp và nông thôn. Công nghệ viễn thám (RS) kết hợp với máy tính đã triển khai công tác điều tra tài nguyên đất đai, đồng cỏ, rừng … giám sát động thái gây hại của sâu bệnh chủ yếu trên nông nghiệp và lâm nghiệp.. đã thu được hiệu quả tốt. Công nghệ 3S, tức hệ thống định vị toàn cầu (GPS), hệ thống thông tin địa lý (GIS) và hệ thống viễn thám (RS) bắt đầu được ứng dụng vào “nông nghiệp chính xác”. Việc thu thập thông tin và quản lý tác nghiệp ngoài đồng ruộng đã thu được kết quả. Việc đẩy mạnh hóa quản lý thông tin và tiến trình mô hình hóa, thông tin hóa tài nguyên rừng đã cung cấp lý luận, phương pháp và công nghệ làm căn cứ cho các đơn vị kinh doanh lâm nghiệp có thể sử dụng bền vững tài nguyên.

– Lĩnh vực vật liệu, phân hóa học, thuốc trừ sâu mới. Các loại phân bón, thuốc trừ bệnh sinh vật và các hóa chất loại mới đã phát triển khá mạnh. Loại phân bón hỗ hợp do Trung Quốc tự chế tạo đã chiếm 20% số lượng phân bón hóa học, các loại phân bón hữu cơ dùng trong sản xuất rau, cây ăn quả, cây cảnh đã khá phổ biến: phân hóa học nồng độ cao, phân hóa học hiệu quả lâu dài và phân tan chậm.. sẽ dần thay thế loại phân đơn nguyên tố, nồng độ thấp. Phương pháp bón phân theo bài phối chế, bón phân cần bằng, bón phân ưu hóa đã mở rộng tái chế, bón phân cân bằng, bón phân ưu hóa mở rộng tới 1/3 tổng diện tích trồng cây lương thực. Nói chung so với biện pháp bón phân đơn giản hiện nay thì sản lượng tăng từ 8-15%, có nơi lên đến 20%.

-Lĩnh vực thiết bị nông nghiệp. Diện tích ứng dụng thiết bị đồng bộ năm 1996 là 698.000 ha đã phát triển lên 1.340.000 ha trong đó có 20.000 ha là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc phù hợp với các cấu trúc, kỹ thuật trồng trọt, khống chế môi trường khác nhau, tiết kiệm năng lượng và sử dụng ánh sáng mặt trời. Trung Quốc nhập khẩu trên 100 nhà ấm điều hòa nhiệt độ, độ ẩm tự động hiện đại của các nước tiên tiến thông qua tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo đã nghiên cứu chế tạo ra các loại phòng ấm hiện đại điều khiển tự động.

Những kết quả đã đạt được thông qua các chương trình phát triển trên là hết sức to lớn. Trung Quốc bên cạnh việc đảm bảo an ninh lương thực cho trên 1,2 tỷ người của mình thì đã và đang tham gia mạnh mẽ vào thị trường các sản phẩm nông nghiệp trên thế giới.

Những kinh nghiệm trong quá trình phát triển nông nghiệp bền vững ở Trung Quốc giúp cho Việt Nam có nhiều kinh nghiệm trong quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững.

b, Kinh nghiệm của Thái Lan về phát triển nông nghiệp bền vững.

Thai Lan là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, có điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội gần giống như Việt Nam. Việc Thái Lan phát triển mạnh mẽ ngành nông nghiệp đang là một bài học kinh nghiệm rất quý báu đối với Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước, phát triển ngành nông nghiệp.

Xét về điều kiện tự nhiên, Thái Lan là một quốc gia có đất đai màu mỡ, diện tích canh tác lớn (chiếm khoảng 40% diện tích cả nước), mưa thuận gió hòa là điều kiện thuận lợi để phát triển cây lúa nước, cây ăn quả và cây công nghiệp nhiệt đới. Hệ thống sông ngòi dày đặc, bờ biển dài, tiếp giáp với hai bờ đại dương (Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương) nên rất thuận lợi cho việc khai thác, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản. Hiện tại, Thái Lan đang phát triển một nền nông nghiệp hoàn chỉnh với sự da dạng hóa, chuyên môn hóa nhiều loại vật nuôi, cây trồng, vừa đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước vừa đảm bảo xuất khẩu. Sản xuất nông nghiệp của Thái Lan trong mấy thập kỷ qua phát triển tương đối ổn định. Thái Lan đã chuyển sang cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp nhưng phần đóng góp của nông nghiệp trong GDP của Thái Lan vẫn rất quan trọng. Nông nghiệp đóng góp 18% trong GDP của Thái Lan. Ngành nông nghiệp nhiệt đới phong phú đã đem lại cho Thái Lan vị trí xuất khẩu gạo số một. Năm 1999, kim ngạch xuất khẩu gạo của Thái Lan đạt 73,8 tỉ Bạt (1,9 tỉ USD), năm 2000 là 257,8 tỉ Bạt (6,5 tỉ USD). Năm 2006, Thái Lan xuất khẩu khoảng 7,5 triệu tấn, mang về cho đất nước trên 9 Tỉ USD. Có được những thành công trên, bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, Thái Lan đã xây dựng cho mình một chiến lược phát triển ngành nông nghiệp đúng đắn. Nội dung của chiến lược bao hàm rất nhiều vấn đề, song tập trung nhất vào các việc xây dựng một số ngành nông nghiệp với kỹ nghệ cao và bền vững.

Các chiến lược phát triển nông nghiệp của Thái Lan:

Thứ nhất, thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo chiến lược xây dựng cơ cấu kinh tế toàn diện và ổn định. Ngay từ năm 1999, chính phủ Thái Lan đã đưa ra chương trình phát triển nông nghiệp, trong đó tập trung vào một số giải pháp như:

+ Đẩy mạnh tốc độ giao đất cho nông dân thông qua cải cách đất đai. Kể từ năm 1998 đến nay, Thái Lan đã tiến hành cải cách đất đai trên diện tích khoảng 200.000 Rai (1 hécta = 0,5Rai)

+ Phân vùng sản xuất nhằm giải quyết tình trạng sản xuất không ổn định, xây dựng vùng chuyên canh sản xuất, phân canh diện tích đất nhất định cho một số loại cây đòi hỏi tưới tiêu tốt.

+ Cung cấp cho nông dân các loại giống cây khác nhau để cải thiện chất lượng cây trồng.

+ Quản lý sau thu hoạch một cách hiệu quả. Bộ Nông nghiệp Thái Lan đã tìm vốn vay từ Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) để tài trợ cho việc mua sắm phương tiện và xây dựng các kho chứa thóc ở mỗi huyện.

+ Thúc đẩy và công bố các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp, theo đó Chính phủ Thái Lan thiết lập Uỷ ban chuyên trách về việc xây dựng, phối hợp với các ngần hàng dữ liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu đối với các cơ quan của Nhà nước và tư nhân. Thông qua Uỷ ban này sẽ tạo điều kiện tư vấn nông nghiệp cho nông dân sản xuất.

+ Cấp tín dụng cho người nghèo và hỗ trợ vốn cho nông dân sản xuất với các chính sách lãi suất ưu đãi.

Thứ hai, thực hiện chiến lược lúa gạo quốc gia 5 năm 2004-2008. Thái Lan tập trung nâng cao sản lượng thóc gạo thông qua việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới tăng năng suất, hoàn thiện hệ thống tưới tiêu, quảng bá thị trường thóc gạo, tăng giá trị xuất khẩu, nâng cao đời sống cho nông dân. Theo chiến lược này, sản lượng thóc sẽ tăng từ 25,88 triệu tấn (17,20 triệu tấn gạo) niên vụ 2002-2003 lên 33 triệu tấn thóc (21,8 triệu tấn gạo) vào niên vụ 2007-2008. Thái Lan tăng cường xuất khẩu gạo chất lượng cao sang các thị trường Trung Quốc, Hồng Kông, Singapor, Liên minh châu ÂU, tăng khả năng cạnh tranh gạo Thái Lan trên thị trường quốc tế.

Thứ ba, phát triển các vùng nông nghiệp sinh thái đô thị. Thái Lan là nước có kinh nghiệm trong việc phát triển các vùng nông nghiệp sinh thái đô thị. Điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội của thủ đô Băng Cốc cho phép hình thành các vùng sản xuất vệ tinh chuyên môn hóa xen kẽ với các khu công nghiệp và dân cư, cách thủ đô từ 40km đến 100 km. Các nông sản sạch và có giá trị kinh tế cao được chú trọng phát triển. Tại những vùng nông nghiệp gần Băng Cốc, nông dân phát triển sản xuất rau quả an toàn liên tiếp. Tại các vùng cách thủ đô hàng trăm km, các mô hình nông nghiệp tổng hợp được xây dựng, trang trại chăn nuôi kết hợp với trồng cây ăn quả, phát triển cây lương thực với nuôi trồng thủy sản nhằm giải quyết vấn đề môi trường và an toàn thực phẩm. Vấn đề tiêu thụ sản phẩm được giải quyết trên cơ sở phát triển quan hệ hợp đồng giữa các công ty chế biến nông sản của Băng Cốc và các hộ nông dân ở các vùng sản xuất vệ tinh. Đặc biệt, Chính phủ Thái Lan rất quan tâm tới các chính sách tài chính, tín dụng, khuyến nông, xây dựng kết cấu hạ tầng, giải quyết ô nhiễm.. nhằm thúc đẩy phát triển các vùng nông nghiệp bền vững.

2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Ngành nông nghiệp là ngành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Bất cứ một quốc gia nào trong chiến lược phát triển kinh tế của mình cũng đều hết sức quan tâm tới chiến lược phát triển nông nghiệp. Thông qua nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của các quốc gia trên thế giới sẽ giúp ích cho Việt Nam rất nhiều bài học trong chiến lược phát triển nền nông nghiệp của mình. Có thể tổng kết và đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong tiến trình phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững.

Thứ nhất, xác định đúng mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa đất nước. Công nghiệp và nông nghiệp là hai ngành kinh tế xương cốt của nền kinh tế quốc dân. Đây là hai ngành trực tiếp tạo ra của cải vật chất. Trong chiến lược phát triển kinh tế của mình, quốc gia nào cũng có đặt vấn đề công nghiệp lên hàng đầu. Ngành công nghiệp sẽ là ngành tạo ra được bước đột phá, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Đây là một quan niệm đúng, tuy nhiên trong khi phát triển ngành công nghiệp thì yêu cầu chúng ta phải coi trọng cả ngành nông nghiệp. Nếu khu vực nông nghiệp không phát triển thì trước hết nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp toàn bộ dân cư sống trong khu vực nông nghiệp, nông thôn, sau đó ảnh hưởng tới sự ổn định về kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn xã hội. Kinh nghiệm của các quốc gia đã cho thấy việc xác định đúng mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa đất nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Dù cho nền khoa học công nghệ của thế giới có phát triển như thế nào thù cũng không thể xóa bỏ vai trò của ngành nông nghiệp. Nông nghiệp và công nghiệp là hai ngành có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo điều kiện và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Do vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế nói chung cần phải chú trọng phát triển cả công nghiệp và nông nghiệp.

Riêng đối với Việt Nam, việc xác định đúng mối quan hệ trong phát triển công nghiệp và nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng. Xuất phát điểm phát triển kinh tế của Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới 70% dân cư sống ở khu vực nông nghiệp. Do đó, trong chiến lược phát triển kinh tế của mình nếu chúng ta không phát triển hài hòa được giữa công nghiệp và nông nghiệp thì nền kinh tế còn nguy cơ rơi vào tình trạng mất ổn định, thiếu tính cân bằng tổng thể. Thực tiễn đã chứng minh điều này, khi trước đổi mới trong đường lối phát triển kinh tế, Việt Nam chỉ chú trọng vào phát triển công nghiệp nặng, khu vực nông nghiệp ít được quan tâm đã dấn tới tình trạng thiếu lương thực – thực phẩm, đời sống của toàn dân cư vô cùng khó khăn. Hiện nay trong việc phát triển ồ ạt các khu công nghiệp cũng đang đẩy một bộ phận dân cư bị mất đất sản xuất nông nghiệp rơi vào tình trạng thiếu việc làm, đời sống khó khăn, làm nẩy sinh những vấn đề xã hội rất khó giải quyết

Từ kinh nghiệm của các nước, trên cơ sở những vấn đề thực tiễn của Việt Nam việc xác định đúng mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước là bài học hết sức có ý nghĩa.

Thứ hai, cần đầu tư thích đáng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Khu vực nông nghiệp, nông thôn là khu vực kém phát triển nhất so với các khu vực khác về mọi mặt. Từ trước tơí nay, do yêu cầu của quá trình tăng trưởng kinh tế hầu hết các quốc gia đều giành phần lớn các nguồn vốn đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ. Phần vốn đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn là rất hạn chế. Trong khi đó đây lại là ngành đòi hỏi vốn lớn, thời gian đầu tư lâu dài. Việc thiếu công bằng trong đầu tư phát triển đã làm cho nông nghiệp vốn lạc hậu lại càng trở lên lạc hậu hơn. Do vậy, từ những bài học kinh nghiệm của các nước rút ra cho Việt Nam bài học: cần phải có những cơ chế chính sách đầu tư một cách hợp lý, hiệu quả cho khi vực nông nghiệp, nông thôn, nhất là đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Thứ ba, phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường. Nganh nông nghiệp là ngành có liên quan trực tiếp tới các điều kiện tài nguyên môi trường. Cụ thể ở đây đó là quá trình sản xuất nông nghiệp liên quan trực tiếp tới các yếu tố tài nguyên như đất, nước, rừng, thủy hải sản… Bên cạnh đó khu vực nông nghiệp, nông thôn là khu vực có trình độ dân trí thấp. Do trình độ khoa học – kĩ thuật còn lạc hậu, trình độ nhận thức của người sản xuất còn hạn chế nên trong quá trình sản xuất, các yếu tố đầu vào của sản xuất đã bị sử dụng một cách thiếu tổ chức, thiếu khoa học. Cụ thể ở đây đó là sự ô nhiễm của nguồn nước, sự suy thoái của đất nông nghiệp do lạm dụng hóa chất, diện tích rừng giảm do chặt phá để lấy đất trồng cây công nghiệp, sự cạn kiệt của các nguồn lợi thủy sản do khai thác quá mức với những phương tiện đánh bắt mang tính hủy diệt. Hậu quả của những vấn đề trên đang tác động trực tiếp ngay tới toàn bộ khu vực nông nghiệp, nông thôn: Diện tích đất hoang hóa, rừng trọc có diện tích ngày càng tăng, sản lượng đánh bắt thủy hải sản gần bờ có xu hướng giảm. Chính vì vậy việc phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa quan trọng. Bảo vệ tài nguyên môi trường chính là bảo vệ sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.

Thứ tư, phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn liền với vấn đề xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của cư dân nông thôn. Đối với Việt Nam, khu vực nông nghiệp, nông thôn là khu vực tập trung tới 70% dân cư. Khổng chỉ có riêng Việt Nam mà hầu hết các quốc gia trên thế giới, khu vực nông nghiệp vấn là khu vực phát triển chậm nhất, đời sống của cư dân nông thôn phần lớn vẫn ở tình trạng nghèo đói so với mỗi quốc gia. Tuy nhiên để vượt qua vòng luẩn quẩn nghèo đói ở khu vực nông nghiệp là hết sức khó khăn. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, khu vực nông thôn đang rơi vào tình trạng “nghèo đi tương đối”. Đời sống khó khăn, cùng với sự gia tăng của hàng loạt các tệ nạn xã hội các tệ nạn xã hội gây mất ổn định không chỉ khu vực nông nghiệp, nông thôn mà nó tạo ra áp lực đè nặng lên nền kinh tế quốc dân. Để giải quyết được vấn đề đó thì không còn con đường nào khác là phải tập trung các nguồn lực để vực dậy sự phát triển của khu vực nông nghiệp, nông thôn. Việc phát triển của khu vực nông nghiệp, nông thôn phải nhằm thực hiện được mục tiêu cao nhất đó là xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của dân cư. Chỉ khi đó sự phát triển mới thực sự bền vững.

Thứ năm, phát triển nền nông nghiệp phải phù hợp với quy luật của thị trường.

Ngành nông nghiệp được coi là một ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Thực tiễn đã chứng minh, Trung Quốc và Thái Lan đã thương mại hóa các sản phẩm nông nghiệp rất thành công. Việc đưa sản phẩm nông nghiệp ra thị trường sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp ra thị trường sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Với nền nông nghiệp tự cung, tự cấp các sản phẩm làm ra chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu của bản thân người sản xuất. Nhưng đối với nền kinh tế thị trường, mọi sản phẩm sản xuất ra đều phải tuân theo quy định của thị trường sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất và lưu thông các sản phẩm nông nghiệp phát triển. Ngoài ra nó còn góp phần thúc đẩy việc nâng cao năng suất lao động trong sản xuất nông nghiệp.

Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất của công nghiệp hầu như không có gì. Do đó, muốn phát triển kinh tế bắt buộc chúng ta phải xuất phát từ nông nghiệp. Tuy nhiên với nền nông nghiệp thủ công, lạc hậu, khép kín thì sẽ rất khó phát triển. Trước những vấn đề thực tiễn đó, một trong những bước phát triển đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế của mình, Việt Nam đã phát triển và đưa ngành nông nghiệp dần dần trở thành nền nông nghiệp mang tính chất hàng hóa. Hiện nay các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam sản xuất ra chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường quốc tế như gạo, hồ tiêu, cao su, cà phê… và đã mang lại nguồn ngoại tệ lớn để làm cơ sở thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên về cơ bản sản xuất nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn mang tính chất thủ công, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô nên giá trị xuất khẩu không cao. Hoạt đống sản xuất chưa thực sự tuân theo các quy luật của thị trường. Do đó, việc xác định bài học kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp phải gắn với các quy luật của thị trường là bài học có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển nền nông nghiệp bền vững.

Nguồn: Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững Ở Việt Nam, TS Vũ văn Nâm, NXB Thời Đại Hà Nội, 2009

Ông Vinh lưỡng lự vài giây rồi cũng tặc lưỡi ký vào bản giao kèo hơn hai sào đất ruộng cao. Chỗ đất này, năm ngoái còn cho thuê được, nay chẳng lẽ để trống, ông bấm bụng cho mượn. “Tôi già rồi, con cái thoát ly hết cả, sức đâu mà làm”.

Chuyện nông dân bỏ ruộng ở xã Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ (Hải Dương) không phải hiếm gặp. Ông Vinh chỉ tay sang nhà bên, anh con trai thứ đã lên thị trấn làm quản lý khách sạn, khóa cửa gửi ông trông nom.

“Hàng ngàn năm nay, đất đối với dân là tấc đất tấc vàng, nay, nhiều người không thiết tha gì với đất đai nữa, là chuyện không thể chấp nhận được”, TS. Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn nhấn từng câu trong lần phát biểu tại một hội thảo gần đây.

Cốt lõi vấn đề, theo ông Sơn, là nhiều nông dân hiện không có đủ động lực để làm nông nghiệp, và câu chuyện hiện không đơn giản chỉ là lợi nhuận sản xuất sụt giảm.

Nguy cơ với tăng trưởng nông nghiệp

Cái lưu ý của người nghiên cứu về chính sách, chiến lược cho ngành nông nghiệp khiến nhiều người chột dạ. Lâu nay, ngành nông nghiệp vẫn được cho là rất ổn, với nhiều loại nông, thủy sản xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới.

“Tôi xin lưu ý thế này, tăng trưởng nông nghiệp của Việt Nam sau nhiều năm rất tốt, gần như cao nhất châu Á, từ 5 năm nay bắt đầu giảm, đặc biệt là năm ngoái và năm nay xuống rất là ghê”, ông Sơn nói.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, ở giai đoạn “cực thịnh” của sản xuất, tăng trưởng ngành nông nghiệp đạt tới 6,4% bình quân giai đoạn 1996-2000 và cao nhất có năm tăng hơn 8%. Nhưng đến giai đoạn 2006-2009, con số này chỉ còn 3,7%, trong đó năm 2009 chỉ tăng 1,83%; 6 tháng đầu năm nay con số ước tính còn tăng 3,31%.

“Vì sao thế?”, người đứng đầu Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn tự đặt câu hỏi.

Theo lý giải của ông Sơn, lý do là vì đất nông nghiệp mất đi rất nhiều. Chủ trương công nghiệp hóa được thực hiện đồng loạt tại nhiều tỉnh, thành phố. Mấy năm gần đây, bình quân mỗi năm có đến 70 nghìn ha đất nông nghiệp được chuyển sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ.

“Ở đồng bằng sông Cửu Long, có chuyện người ta dùng xà lan chở đất đỏ từ trên miền Đông xuống, đổ lên rộng lúa để làm khu công nghiệp. Đến lúc không có ai vào thì chuyển sang làm sân golf…”, TS. Sơn nói.

Trong khi đó, sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Giá phân bón và nguyên liệu đầu vào đều tăng theo giá dầu mỏ. Nước cho nông nghiệp ngày càng thiếu nghiêm trọng. “Chưa bao giờ đến mùa khô mà mỗi lần đổ ải là phải đồng loạt mở trên thượng nguồn và các tỉnh đồng loạt lấy nước vào ruộng”, ông Sơn trầm ngâm.

Nói đến vốn cho nông nghiệp, TS. Sơn lưu ý thêm, luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng 3%, và tư nhân hầu như rất ít người đầu tư vào nông nghiệp.

Khó khăn từ sản xuất, cộng với lợi nhuận giảm khiến mức sống của người nông dân kém đi, đặc biệt sau cuộc suy giảm kinh tế vừa rồi với lạm phát tăng cao. Lao động khu vực này chuyển mạnh sang các lĩnh vực sản xuất khác và dịch vụ, dẫn tới thiếu hụt nghiêm trọng.

“Mỗi lần đồng chí Bộ trưởng Cao Đức Phát của chúng tôi đi chống lụt bão thì chỉ có dùng bộ đội được thôi, không còn thanh niên nữa”, câu lý giải của ông Sơn là một thực tế hiện nay.

Cho nông nghiệp một cơ hội

Chỉ có hai con đường duy nhất là cải tiến quản lý và đi vào công nghệ. Nhưng, thể chế là câu chuyện phức tạp. “Thể chế dẫn tới bất lực của cơ quan quản lý… Bộ trưởng không đuổi việc được một anh cán bộ thấp nhất thì không thể điều hành bộ máy tổng thể hiệu quả được”, TS. Sơn bức xúc.

Ở phạm vi công việc của mình, ông Sơn cho biết, hoạt động khoa học không thiếu tiền, mỗi năm nhà nước cấp cho ngành nông nghiệp tới 500 tỷ đồng và sắp tới sẽ lên 900 tỷ đồng. Ngoài ra còn rất nhiều khoản vay ODA trang bị thiết bị và hiện đại hóa cơ sở nghiên cứu cho các viện.

“Nhưng cái chết là cơ chế”, ông nói. “Cải cách về cơ chế tắc nghẽn, thí điểm giao quyền tự chủ cho các viện không thực hiện được. Thế thì thiết bị cũng chỉ lãng phí mà thôi, tiền bạc cũng chỉ lãng phí mà thôi”.

Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ, tiền cho nghiên cứu khoa học, tiền dịch vụ công… là từ trên xuống và ra quyết định là của lãnh đạo cấp trên chứ không phải người nông dân – đối tượng sử dụng tiến bộ khoa học, dịch vụ công ấy, họ không được có ý kiến, không được chọn lựa, đánh giá sản phẩm khoa học.

“Người làm tốt không được thưởng, người nào làm không ra sản phẩm không bị phạt. Tất cả tiền chỉ để nuôi quân, mà trả lương theo thang bậc, chức vụ, thâm niên chứ không phải theo hiệu quả công việc, thì làm sao mà có động lực được”, ông Sơn nói.

Ở góc độ quan hệ sản xuất, theo TS. Sơn, trong khi lực lượng sản xuất phát triển rất nhanh sau chủ trương đổi mới, nhưng quan hệ sản xuất bó lại cứng nhắc. Từ thời “khoán 10” đến giờ, chúng ta cơ bản vẫn là sản xuất tiểu nông, không mở được hợp tác xã, không phát triển được kinh tế trang trại. Kinh tế trang trại chỉ có 1%, số lao động trong hợp tác xã chỉ chiếm có 5% và không thể nào đưa vào hợp tác xã được.

Như vậy, theo ông Sơn, với thể chế từ cấp thấp nhất là hộ sản xuất, đến cao nhất là cấp bộ đều “vướng” và nông dân không phát huy được hiệu quả, không có nhiệt huyết là điều dễ hiểu.

“Đã đến lúc quan hệ sản xuất kìm hãm lực lượng sản xuất; thượng tầng kiến trúc kìm hãm hạ tầng cơ sở, phải cơ cấu lại nếu không thì bộ máy không chạy được”, Viện trưởng Sơn nhìn nhận.

Nhìn ra thế giới, từ năm 2008 giá lương thực tăng đột biến và tất cả các dự báo của tổ chức quốc tế hiện này đều cho thấy trong tương lai giá lương thực sẽ tiếp tục tăng. Mấy tháng gần đây, từ sau Diễn đàn Kinh tế Đông Á diễn ra tại Tp.HCM, nhiều tập đoàn xuyên quốc gia lớn đã đến bàn với Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát để đầu tư vào Việt Nam.

“Như vậy, sản xuất nông nghiệp trong tương lai có thể là có lợi”, ông Sơn đặt vấn đề. “Có lẽ phải tính đến một chiến lược mà trong đó nông nghiệp chiếm một vị trí nào đó”.

Vấn đề quan tâm
Nông thôn nào trong tương lai?

Tương lai nông thôn sẽ rất khó khăn theo dự báo từ các quốc gia đi trước. Tỷ lệ dân cư nông thôn hiện nay chỉ chiếm khoảng 20 – 30% tại các nước công nghiệp phát triển.

Các dự báo cho thấy tới năm 2020, dân cư nông thôn tại nước ta vẫn còn khoảng 55 – 60%, vào năm 2030 còn khoảng 45 – 50%. Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội. Nghiên cứu tại Hà Lan cho thấy vào những năm sau thế chiến thứ 2, dân số nông thôn đổ vào thành phố nhưng sau năm 90 của thế kỷ trước đã có sự di cư ngược lại…
Các nghiên cứu nổi tiếng vào những năm 70 của thế kỷ trước như APK (tổ hợp nông – công nghiệp) của Liên Xô cũ tại Bungari, “Ðại trại” của Trung Quốc hoặc thành phố trên cánh đồng (city in the field) của J.Friedmann và Doglass, hay “pháo đài cấp huyện” của Việt Nam dường như đã trở về với trào lưu không tưởng (utopia) của Robert Owen (1771 – 1858) và F.M.C. Fourier (1772 – 1837).
Với cuộc cách mạng về thông tin cũng như khoa học kỹ thuật, đặc biệt là tự động hóa như hiện nay đang có xu hướng giảm bớt lao động tập trung trong các nhà máy, công trường và tạo nhiều việc làm mới tại gia trong lĩnh vực dịch vụ đã và đang đặt ra vấn đề lớn: Liệu ngành công nghiệp và dịch vụ tại các tại các đô thị có thể dung nạp hết hàng chục triệu cư dân đang thiếu đất canh tác ở nông thôn? Liệu nông thôn sẽ có cách đi riêng để tự bảo vệ mình trong cuộc xâm lăng mới của các thế lực đô thị hóa hay cùng kết nghĩa thành anh, em?

Nông thôn thuần nông sẽ trở lại thuần nông hơn?
Không phải chỉ ở Việt Nam có truyền thống sâu đậm về “ly nông bất ly hương”, phải nói rằng cả thế giới nông thôn đều có cho dù họ ở xứ sở “sương mù”, hay các nước công nghiệp phát triển châu Âu hay châu á. Tuy nhiên quá trình công nghiệp hóa đã từng bước thay đổi nhiều truyền thống trong đó có truyền thống “ly nông bất ly” hương tại các vùng nông thôn. Ngay tại Nhật Bản trong vòng 100 năm và Hàn Quốc 50 năm trở lại đây nông dân các thế hệ trước cũng một thời “ly nông bất ly hương” nhưng đến thế hệ trẻ sau này đã thay đổi toàn bộ. Hiện các nước này chỉ còn lại khoảng 30% dân số sinh sống tại nông thôn.
Việt Nam cũng sẽ nằm trong quy luật đó. Thanh niên thế hệ thứ 2 của quá trình công nghiệp hóa đang và sẽ thay đổi truyền thống của cha ông tại các vùng nông thôn Việt Nam. Họ sẽ “ly hương” để tìm cuộc sống ổn định và lâu dài tại các đô thị lớn, các khu dân cư bên cạnh các khu công nghiệp. Thực tế, một bộ phận dân cư nông thôn của miền Bắc và miền Trung đã hội nhập với dân cư nông thôn ÐB Sông Cửu Long trong việc ly hương cả gia đình. Nhiều “nam thanh nữ tú” nông dân đang làm việc trong các đại công trường đô thị và công nghiệp đã kết hôn ngoại tỉnh thậm chí cùng tỉnh nhưng đã đặt nền móng của việc định cư lâu dài tại TP. Hồ Chí Minh, Ðồng Nai, Bình Dương…
Như vậy, nguồn lực đến từ công nghiệp hóa – hiện đại hóa tại các đô thị lớn và các KCN tập trung cho vùng nông thôn thuần nông sẽ dần dần giảm bớt. Trong vài chục năm tới sẽ xuất hiện các làng xóm chỉ có người già, người neo đơn. Người dân nông thôn sẽ ít đi, một số ngành nghề được phát triển trong thời gian qua sẽ dần mai một do thị trường hạn chế. Nông thôn thuần nông sẽ giống nhau ở cả vùng ÐB Sông Hồng , Trung Bộ và cả ÐB Sông Cửu Long – sẽ thuần nông hơn.
Hiện tại, không ai ưa hai từ “thuần nông” vì nó thường đi kèm với nghèo khó. Tuy nhiên, công nghiệp hóa tạo ra khả năng mới đối với nông thôn thuần nông: hàng triệu thanh niên nông thôn sẽ định cư lâu dài tại các khu đô thị và bình quân diện tích đất nông nghiệp ở nông thôn thuần nông sẽ tăng lên từ 1.000m2 hiện nay lên 2.000 – 5.000m2/người hay khoảng 1 – 3ha/hộ nông nghiệp. Với diện tích này, theo mô hình các “Polder” tại Hà Lan cho phép sản xuất cơ giới hóa trở thành các nông trại nhỏ đa canh, năng suất cao. Người nông dân thực sự sẽ sống từ đất.
Vấn đề quan trọng là không thể biến nông dân vốn “chân lấm tay bùn” lao động cơ bắp thành ngay các ông chủ trang trại. Nếu vậy thì phải chấp nhận chính sách tăng hạn điền và chấp nhận nhiều người cày sẽ không có ruộng. Trong bối cảnh đó một bộ phận nông dân có thể làm thuê như những công nhân công nghiệp đang làm thuê hiện nay tại các khu công nghiệp và đô thị. Tại sao không?

Ðô thị nông nghiệp
Phải chẳng là một tư duy mới của trào lưu không tưởng (utpia)?

Phải chăng là một mô hình cần nghiên cứu nghiêm túc?

Ðã có đô thị hành chính, đô thị công nghiệp, đô thị du lịch, đô thị khai khoáng… tại sao lại nói không với đô thị nông nghiệp? Ðây là một vấn đề khó, phức tạp cần có nhiều công sức để nghiên cứu.

TS.KTS Nguyễn Thiềm
Theo tạp chí Kiến trúc Việt Nam 11/08

1.    Tiềm năng nông nghiệp Việt Nam

Tiềm năng nông nghiệp Việt Nam

Lịch sử phát triển nông nghiệp Việt Nam đã để lại cho hiện tại và tương lai những bài học giá trị. Thời Pháp thuộc hàng triệu người đã chết đói, nhiều triệu người khác thiếu ăn. Nhưng giờ đây, Việt Nam đã vươn lên đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, nhờ có những chủ trương, cơ chế đúng đắn.

Trong thế kỷ 20 Việt Nam đã trải qua ba cuộc chiến tranh và hai cuộc khủng hoảng kinh tế lớn (1930 và 1985). Thế mà dân số nước ta trong thời gian này vẫn tăng hơn sáu lần với suất tăng trưởng hơn 2% năm, trong cả suốt thế kỷ 19 dân số chỉ tăng chưa đến ba lần với suất tăng trưởng dưới 1%.

Đến 1990 tốc độ tăng dân số vẫn còn cao hơn tăng lương thực, nhưng chỉ trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, sản lượng lương thực và thóc gạo đã vượt lên và trong cả thế kỷ đã tăng gần tám lần. Nếu sản lượng thóc trên đầu người đầu thế kỷ là hơn 300 kg, thì cuối thế kỷ đã tăng lên hơn 400 kg.

Nông nghiệp vào đầu thế kỷ chủ yếu là nền nông nghiệp cổ truyền, dựa trên nền kinh tế gia đình nông dân và cộng đồng làng xã. Nghề trồng lúa chủ yếu dựa vào nước trời và đầu tư lao động, chưa có cải tiến kỹ thuật đáng kể. Năng suất lúa khoảng 12 tạ/ha, sản lượng vừa đủ ăn một cách khó khăn. Sản lượng tăng chủ yếu do khai phá thêm đất đai. Ở Bắc kỳ từ 1925 đến 1926 đã có 35 lần vỡ đê. Chính quyền Pháp đã bắt đầu xây dựng một số công trình tưới tự chảy. Ở đồng bằng sông Cửu Long đất nhiều và ít dân, diện tích trồng lúa tăng nhanh nhờ việc đào kênh, khiến dư thừa thóc gạo để xuất khẩu.

Sở hữu ruộng đất không đồng đều, ở miền bắc không có nhiều địa chủ lớn nhưng 50 % nông dân không có ruộng đất. Ở miền nam ruộng đất tập trung vào tay các điền chủ lớn và nông dân không có ruộng chiếm đến 2/3 nông dân.

Trong những năm 30, nhà địa lý Pháp Pierre Gourou (1936) viết cuốn sách “Những người nông dân đồng bằng Bắc Bộ” đã mô tả hệ thống nông nghiệp của một vùng có mật độ dân số cao nhất thế giới. Thời bấy giờ dân số nông thôn vùng đồng bằng này là 6,5 triệu người với mật độ là 430 người/km2 . Tác giả dự báo với suất tăng dân số là từ 1,0 đến 1,3 % năm, dân số vùng này sẽ đạt 13 triệu người vào các năm 1984-2001.

Thực tế dân số vùng này đã tăng đến 17 triệu vào năm 2000. Gourou đã nói: ” Hình như châu thổ này hiện nay không nuôi đủ 430 người/ km2, không thể nuôi được một dân số gấp đôi” (trang 197). Nhưng thực tế nông dân nơi đây đã tìm được cách không những nuôi được một dân số tăng hơn gấp đôi, mà còn dư thừa để tích luỹ và xuất khẩu.

Sau năm 1930, tốc độ tăng dân số đã tăng lên 2,2% năm, chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và các cuộc chiến liên tục, khiến nông nghiệp nước ta gặp nhiều khó khăn trong sự phát triển. Sản lượng thóc bắt đầu giảm dần và đến 1945 hai triệu người đã chết đói.

Sau Cách mạng Tháng Tám, chính phủ cách mạng đã quyết định giảm 25% địa tô cho nông dân, và năm 1948 tịch thu 250.000 ha ruộng của địa chủ Pháp và người hợp tác với Pháp để chia cho người không có đất. Năm 1953, tiến hành cải cách ruộng đất, tịch thu ruộng của địa chủ để chia cho nông dân. Nông dân đã phấn khởi sản xuất, sản lượng lương thực lại tăng nhanh.

Tiếp đó sau năm 1960, việc tập thể hóa nông nghiệp và cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ đã làm cho nông nghiệp giảm sút. Sau chiến tranh, nông nghiệp đã phục hồi một cách khó khăn, các nhược điểm của chế độ kế hoạch hóa tập trung và nông nghiệp tập thể dần dần lộ ra. Ở miền bắc mặc dù phần đất của hộ nông dân chỉ chiếm có 5-10 % của toàn bộ ruộng đất nhưng thu nhập từ kinh tế hộ đã vượt quá 70 %. Việc tập thể hóa ở đồng bằng sông Cửu Long không thành công. Nông dân ở nhiều nơi thực hiện việc khoán sản lượng cho hộ nông dân đã chứng minh ưu thế của chế độ này. Từ năm 1980 chế độ khoán này được chỉ thị 100 của Ban Bí thư công nhận tạo đà phát triển mới cho nông nghiệp. Quá trình cải cách kinh tế đã bắt đầu đưa nền kinh tế trở thành kinh tế thị trường và đưa nông nghiệp về với kinh tế gia đình vào năm 1988.

Cuộc cải cách này đã đưa đến một kết quả bất ngờ. Ngay năm 1989, Việt Nam lại bắt đầu xuất khẩu gạo trở lại và đã trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới. Việc quan tâm đến lợi ích của nông dân đã làm cho nông nghiệp phát triển một cách toàn diện. Các năm gần đây nông nghiệp đã tăng 4,3%/năm. Sản lượng lúa của đồng bằng sông Cửu Long tăng nhanh nhờ việc đầu tư phát triển thủy lợi. Ngoại tệ do xuất khẩu gạo cho phép nhập nhiều phân bón. Các tiến bộ kỹ thuật từ hệ thống nghiên cứu khoa học được người nông dân tiếp thu nhanh. Các cây trồng khác cũng đã phát triển đáng kể đưa Việt Nam vào loại xuất khẩu hàng đầu của thế giới như cà-phê, hạt điều hay có triển vọng như hồ tiêu, chè, cao-su… Chăn nuôi cũng phát triển nhanh hơn dân số nhưng chưa như mong muốn vì tốc độ còn chậm hơn trồng trọt. Nghề nuôi thủy sản và đánh bắt thủy sản cũng phát triển rất mạnh.

Việc phát triển nông nghiệp trong tương lai đang đứng trước những thách thức lớn cần phải tìm cách khắc phục.

Sự tăng trưởng nông nghiệp liên quan với việc phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa thực sự và với sự chinh phục các thị trường mới. Nông nghiệp hàng hóa đã có ở miền nam từ lâu với hướng xuất khẩu. Ở miền bắc trước đây xuất khẩu sang các nước xã hội chủ nghĩa, nay thị trường này không còn nữa, chưa tìm được thị trường mới.

Các sản phẩm còn kém về chất lượng. Đặc điểm này làm cho hàng hóa khó đi vào thị trường các nước đã phát triển. Cải tiến chất lượng và tiếp cận thị trường là các mục tiêu thích hợp với sản xuất gia đình, nhưng phải có hỗ trợ và chính sách thích hợp.

Sau đổi mới, các sự chuyển đổi cơ cấu quan trọng của nền kinh tế đã xảy ra: Tỷ trọng nông nghiệp trong sản phẩm trong nước giảm nhường cho công nghiệp và dịch vụ. Lao động nông nghiệp cũng giảm về tương đối nhưng vẫn tiếp tục tăng về tuyệt đối. Việc chuyển đổi cơ cấu ở nông thôn rất hạn chế, sự đa dạng hóa nông nghiệp, sự phát triển chế biến nông sản, các hoạt động phi nông nghiệp, được thực hiện rất chậm. Lao động nông nghiệp đang tăng lên ở nông thôn, tạo nên tình trạng thiếu việc làm, làm cản trở việc tăng năng suất lao động và tăng được thu nhập.

Việc thỏa mãn nhu cầu thực phẩm chỉ là giai đoạn đầu, rất cần thiết cho sự phát triển. Nhưng để thúc đẩy sự tăng trưởng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển bền vững, nhưng còn thúc đẩy được sự phát triển của toàn xã hội, việc chuyển sang sản xuất hàng hóa là rất cần thiết.

Một chiến lược phát triển nông nghiệp dựa vào xuất khẩu nông sản thô không thúc đẩy được sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cũng như tăng trưởng nông nghiệp bền vững vì nó không dẫn đến sự đa dạng hóa cũng như công nghiệp chế biến thực phẩm hay công nghiệp nông thôn. Việc giá cả nông sản thay đổi trên thị trường thế giới là cản trở chính cho hướng phát triển nông nghiệp này. Trái lại việc phát triển nông nghiệp để phục vụ thị trường trong nước, phục vụ nhu cầu của công nghiệp hóa lại thúc đẩy được chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

Hiện nay dân số Việt Nam là 80 triệu người, diện tích đất nông nghiệp là 9,4 triệu ha, số hộ nông dân là 13,5 triệu trung bình mỗi hộ chỉ có 0,7 ha. Nếu không giảm được lao động nông nghiệp thì nông sản thặng dư khó mà tăng thêm được.

Hộ nông dân hiện nay hoạt động trong một môi trường kinh tế và xã hội không được thuận lợi. Nhà nước đã rút lui khỏi nhiều hoạt động ở nông thôn lúc đã hủy bỏ chế độ bao cấp, đồng thời nhiều xí nghiệp quốc doanh và nông trường quốc doanh đã thôi hoạt động. Kinh tế hàng hóa phát triển một cách rụt rè vì thiếu các cơ sở hạ tầng và khung pháp lý thích hợp. Các hoạt động hỗ trợ công cộng đối với hộ nông dân rất hạn chế và nhiều nơi không có. Các HTX cũ phải chuyển đổi thành các HTX dịch vụ không thực hiện được vì gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu vốn và còn các món nợ chưa thanh toán được. Nông thôn đang ở trong tình trạng thiếu các thể chế thích hợp.

Thể chế tạo ra thị trường có hiệu quả. Thị trường hiệu quả là các thể chế có chi phí trao đổi thấp và tạo ra lợi ích kinh tế để các tác nhân cạnh tranh với nhau qua giá và chất lượng. Trong quá trình phát triển của hộ nông dân, lúc hộ đang còn ở giai đoạn tự cấp thì nông dân thường tham gia vào thị trường để trao đổi các vật chất tiêu dùng. Lúc bắt đầu phát triển kinh tế hàng hóa, hộ nông dân thường phải đa dạng hóa sản xuất trong đó có phát triển các hoạt động phi nông nghiệp bao gồm cả việc buôn bán để tăng thêm việc làm và thu nhập. Trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, xu hướng chung là nông dân từ bỏ dần hoạt động buôn bán để chỉ tập trung vào sản xuất. Trong quá trình này người nông dân mất dần quyền mặc cả. Nông dân thường phải chịu sự áp đặt giá cả của khách hàng. Thế lực chính trị của nông dân ngày càng bị giảm nên họ mất thế lực trong việc mặc cả giá. Phải phát triển hợp tác xã tiêu thụ nông sản để giúp nông dân tham gia thị trường như các công ty kinh doanh chế biến và buôn bán. Chế độ nông nghiệp hợp đồng cần khung pháp lý để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng.

Cần phát triển các hình thức tổ chức nông dân đa dạng. Tổ chức nông dân cần phải bắt đầu từ thấp đến cao, thực hiện việc học tập qua việc làm. Cần phải đào tạo cán bộ tổ chức nông dân. Quá trình xây dựng các thể chế mới cần được thực hiện đi đôi với sự phát triển dân chủ ở cơ sở.

Nông thôn, nông dân và bài học Thái Bình

1 2

Nông dân và nông thôn là “đại vấn đề” của cả loài người. Còn “Bài học Thái Bình” là một lời cảnh báo của “nông thôn và nông dân” nước ta cách đây đúng 10 năm. Vì thế, trước khi đi vào vấn đề cụ thể của nông dân và nông thôn nước ta, có lẽ nên lướt qua đôi nét về những ý tưởng về “phát triển nông thôn” trong khoảng 5 thập kỷ vừa qua.

I.

Trước hết là cuộc “cách mạng xanh”, thành tựu của việc phát triển nông thôn gắn với phát triển nông nghiệp, hướng mọi cố gắng vào phát triển công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp và sử dụng hợp lý tài nguyên của thập kỷ 60 của thế kỷ XX.

Bước sang thập kỷ 70, khi nông nghiệp phát triển không trực tiếp đem lại thu nhập và đời sống cao cho cư dân nông thôn, người ta tập trung chú ý đến việc làm và thu nhập, tăng trưởng và sự công bằng. Các chương trình phát triển nông thôn ra đời nhằm tăng năng suất nông nghiệp và tăng cường cung cấp nhu cầu cơ bản của con người, chú ý đến phân phối thu nhập, việc làm, thị trường, năng suất lao động, hệ thống nông trại, kinh tế hộ nông dân. Các phương pháp phát triển nông thôn trong giai đoạn này dựa nhiều vào sự can thiệp và chỉ đạo của các chính phủ. Phát triển nông thôn tiến sang cả lĩnh vực giáo dục, y tế, dịch vụ xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm phát triển kinh tế nói chung.

Thành công của chiến lược này làm xuất hiện một số nước công nghiệp mới, thành công nhất là ở Đông Á. Lúc này xuất hiện khái niệm phát triển nông thôn tổng hợp.

Sang thập kỷ 80, Ngân hàng thế giới và UNDP đưa ra chiến lược phát triển nông thôn nhằm cải thiện đời sống kinh tế xã hội của dân nghèo nông thôn. Nội dung phát triển nông thôn tập trung vào các hoạt động xoá đói giảm nghèo, giảm chênh lệch thu nhập và giàu nghèo, tăng khả năng tiếp cận hàng hoá và dịch vụ. Ở đây nổi lên sự tham gia và quyết định nhiều hơn của người dân và các tổ chức của họ.

Đáng chú ý là, tại các nền kinh tế công nghiệp phát triển như Nhật Bản, châu Âu,… người ta đề cao quan niệm phát triển nông thôn để xây dựng một nền nông nghiệp, phát triển nông thôn đa chức năng: nông thôn không chỉ còn là địa bàn cư trú của cư dân nông thôn và sản xuất nông nghiệp mà còn đảm nhiệm những chức năng mà thành phố không đáp ứng được như: Bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên nhất là tài nguyên rừng, tài nguyên đất và nước, tài nguyên đa dạng sinh học, khoáng sản. Bảo vệ và phát triển môi trường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì các cân bằng sinh thái. Bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc, của các địa phương. Gìn giữ và khai thác các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể, các kiến thực bản địa, các giá trị nhân văn và tài nguyên con người. Khai thác các giá trị, truyền thống lịch sử. Kết hợp với quá trình phi tập trung hoá công nghiệp hoá và đô thị hoá, quá trình gắn kết toàn cầu hoá với quá trình phát triển nông thôn. suốt trong hơn hai thập kỷ tiếp theo.

Đối với các nước đang phát triển, quan điểm phát triển nông thôn đa chức năng nhấn mạnh vào khía cạnh phát triển bền vững, phát triển tổng hợp cả kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, môi trường, nông thôn.

Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”, quan điểm ấy của “Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển ”(WCED), có liên hệ mật thiết đến vần đề nông thôn và nông dân. Chính từ cách nhìn nhận vấn đề như trên, có thể nói rằng, công nghiệp hoá, hịện đại hoá đất nước có thành công hay không, xét cho cùng, tuỳ thuộc vào cách nhìn nhận và giải quyết bài toán về nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Đó là vấn đề không riêng gì của nước ta, nhưng đối với nước ta, thì chính là vấn đề của vấn đề.

Sẽ có nhiều lập luận như, không có sự hỗ trợ của công nghiệp và đô thị, chỉ độc lực nông dân và nông thôn cày sâu cuốc bẫm, “tấc đất tấc vàng”, “dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần” không sao giải quyết được vấn đề nông nghiệp. Không giải quyết được vấn đề nông nghiệp thì cũng không giải quyết được vấn đề nông thôn, và quan trọng nhất là, không giải quyết được vấn đề nông dân.

Nhưng không giải quyết được nông nghiệp, nông thôn và nông dân thì làm sao tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá được. Liệu có rơi vào cái vòng luẩn quẩn “cái trứng con gà” thuần tuý tư biện? Chính vì để thoát ra khỏi cài vòng luẩn quẩn đó mà trước khi đi vào vấn đề của ta, cần có một cái nhìn lướt nhanh rất khái quát đã dẫn ra ở trên, và rồi sau đó, vào ngay những con số rất chi là cụ thể.

Đôi khi, cái nhìn từ bên ngoài giúp người trong cuộc biết trân trọng hơn những giá trị mà mình đang có. Thì ra, đâu chỉ phải chúng ta trân trọng giữ gìn và tôn tạo các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc vốn từng được nuôi dưỡng, ấp ủ trong văn hoá làng của ta. Ở các nước công nghiệp phát triển, càng ngày người ta càng hiểu ra rằng “nông thôn không chỉ còn là địa bàn cư trú của cư dân nông thôn và sản xuất nông nghiệp mà còn đảm nhiệm những chức năng mà thành phố không đáp ứng được”. Trong đó có vấn đề bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống, gìn giữ và khai thác các giá tr văn hoá vật thể và phi vật thể, các giá trị nhân văn và tài nguyên con người, các giá trị, truyền thống lịch sử. Trực tiếp hơn nữa là môi trường sống, bảo vệ và phát triển môi trường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, cân bằng sinh thái, với ta, đó là làng quê thuần phác, là “những con sông quê hương”.

II.

Trong sâu thẳm những kỷ niệm của chúng ta, sẽ bất hạnh cho những ai không có được sự quyến rũ đầy xúc động của những con sông quê hương. Chao ôi, “quê hương tôi có con sông xanh biếc, nước gương trong soi tóc những hàng tre, tâm hồn tôi là một buổi trưa hè, toả nắng xuống lòng sông lấp lánh” (Tế Hanh). “Dòng sông nắng cho bờ bến rộng”,Người ra đi bến sông nằm lặng. (Trịnh Công Sơn). Thế rồi, chúng ta đang đau đớn chứng kiến để tiễn đưa “những dòng sông sắp qua đời”! Những con sông xanh biếc của tuổi thơ êm đẹp đang ngả sang màu đen nâu và bốc mùi! Các dữ liệu mà báo cáo của Bộ Tài nguyên-Môi trường vừa công bố, tập trung vào tình hình ba lưu vực Sông Cầu, sông Nhuệ-sông Đáy ở phía bắc và lưu vực sông Đồng Nai ở phía nam, cho thấy rõ điều đó.

“Ai về bên kia sông Đuống, cho tôi gửi…”, vùng Kinh Bắc mộng mơ của “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong, màu dân tộc cháy bừng trên giấy điệp” (Hoàng Cầm) thì nay cần xót xa để biết cho rằng, hằng năm, lưu vực Sông Cầu đang tiếp nhận thêm ít nhất 180.000 tấn phân hoá học và 1.500 tấn thuốc trừ sâu! Có 800 cơ sở sản xuất công nghiệp, 200 làng nghề và 1200 cơ sở y tế trong khu vực có mật độ dân số cao hơn hai lần mật độ dân số cả nước. Nước thải của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ giữa thành phố Thái Nguyên xả thẳng vào các nhánh nhỏ đổ ra sông Cầu mang theo các chất ô nhiễm vô cơ, xơ sợi khó lắng và độ kiềm cao. Khu công nghiệp gang thép này cho tuôn chảy vào sông Cầu một lưu lượng khoảng 1,3 triệu m3/năm với những chất độc hại như dầu mỡ, phenol và cyanure. Lưu vực sông Nhuệ-sông Đáy với mật độ dân số 874 người/km2, gấp đôi lưu vực sông Cầu, bị nước thải đô thị xối thẳng trực tiếp làm đen ngòm nước sông đang bốc mùi, trong đó Thủ đô “vinh dự” góp 54% lượng nước thải đó! Con sông Đáy thơ mộng với nước trong vắt, “soi tóc những hàng tre” của những vùng đầy ắp những danh lam thắng cảnh, chùa chiền, miếu mạo, đền thờ, di tích lịch sử cùng với những con sông Châu Giang, sông Tích, sông Hoàng Long, sông Đào từng tắm mát tâm hồn bao thế hệ cư dân Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Hoà Bình, Ninh Bình thì nay đang chuyển màu, khô kiệt và hôi thối. Không khéo đến “ngựa đá” trong “lưỡng hồi lao thạch mã” từ bài thơ của ông vua anh hùng thời Trần lao ra, cũng đến chết chìm trong dòng sông ô nhiễm thời hiện đại đang lượn sát vùng đất thiêng Tức Mạc, nơi phát tích của khí phách Đông A..

Con sông Đồng Nai vang bóng một thời, Làm trai cho đáng nên trai, Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng”, đang bị đe doạ. Cả hệ thống những con sông trong lưu vực sông Đồng Nai này đang chịu tác động cùng lúc từ nhiều nguồn, phần hạ lưu đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, có những đoạn đã chết và đang chết. Nước sông Đồng Nai, đoạn từ Nhà máy nước Thiện Tân đến Long Đại có hàm lượng chì rất cao. Còn chất hữu cơ với dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng thì đang xối vào huỷ hoại hệ thống sông Saì gòn. Riêng sông Thị Vải đã có đoạn bị chết kéo dài từ sau khu vực hợp lưu suối Cả-Đồng Nai đến khu công nghiệp Mỹ Xuân. Công nghiệp, làng nghề, nuôi trồng thuỷ sản, càng được đẩy tới bao nhiêu thì chất thải từ đó càng đầu độc những dòng sông bấy nhiêu!

Liệu đã có ai thử đo đếm và tính toán xem, sản phẩm làm ra với giá trị gia tăng từ những hoạt động sản xuất đó có bù đắp nổi cái giá phải trả cho môi trường bị tàn phá? Theo nhận định có trách nhiệm của một nhà khoa học trong Hội thảo khoa học về “Phát triển nông thôn” vừa rồi, thì thực trạng về ô nhiễm môi trường ở nông thôn còn có khía cạnh nặng nề hơn so với đô thị. Gánh nặng lại đổ lên đầu nông dân, nông thôn lại phải chịu thân phận là “bãi rác”, nơi chứa các chất phế thải của đô thị và công nghiệp.

Ai kia ở chốn phồn hoa đô hội ồn ào, bụi bậm mong có dịp về nông thôn để được hít thở không khí trong lành, đắm mình vào dòng sông quê hương từng tưới mát tuổi thơ ấy, nay đang thật sự bị thất vọng. Môi trường trong lành đang bị huỷ hoại nghiêm trọng bởi chất thải công nghiệp, chất thải vô tội vạ của làng nghề, chất thải từ mạnh ai nấy làm trong nuôi trồng thuỷ sản… và chất thải từ sự vô ý thức của con người tự huỷ hoại môi trường sống của chính mình và con cháu mình.

Phải dám nhìn thẳng và nói ra sự thật là, đôi khi, chính chúng ta tự huỷ hoại hoặc làm hư hỏng, giảm sút những giá trị, những “vàng ròng” mà ta có trong tay.

“Những con sông quê hương” đang đen kịt và bốc mùi, những cảnh quan thuần phác và thơ mộng của ngôi làng quê sâu đậm trong ký ức tuổi thơ đang mất dần. Có nhất thiết buộc phải đánh đổi một nông thôn xanh tươi và hài hoà với thiên nhiên, nơi ấp ủ nền văn hoá truyền thống dân tộc, nơi nuôi dưỡng sự trong lành, ấm áp của tuổi thơ bao thế hệ Việt Nam, để đổi lấy những ngôi nhà bê tông vô hồn đang kệch cỡm mọc lên, phô ra cái thị hiếu hạ cấp, đổi lấy một lối sống lai căng ngấu nghiến những cặn bã của văn minh đô thị chưa kịp tiêu hoá, đổi lấy những dòng sông đen ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước tưoi mát bao đời tắm tưới, thanh lọc tâm hồn Việt Nam, nuôi dưỡng và bồi đắp bản sắc văn hoá dân tộc?

Phải thấy cho ra trong mục tiêu công bằng mà ta hướng tới với một xã hội dân chủ văn minh, thì đây là một sự bất công lớn. Chẳng lẽ chúng ta đành bó tay trước quy luật nghiệt ngã, khốc hại của thời kỳ tích luỹ hoang dại, sơ khai để công nghiệp hoá, đô thị hoá xưa kia vốn được xây đắp trên cái nền của sự tàn phá và bần cùng hoá nông thôn? Thế kỷ XXI được mệnh danh là thế kỷ của bộ não, nền văn minh trí tuệ và kinh tế tri thức chắc chắn phải tìm ra phương thuốc chữa trị cho căn bệnh hiểm nghèo của thời kỳ sơ khai, hoang dã đó chứ. Chẳng nhẽ chỉ đành “Nhìn nhau ôi cũng như mọi người. Có một dòng sông đã qua đời” (Trịnh Công Sơn).

Và, không chỉ có thế, một cái mất khác cần được báo động: mất cái không bao gờ còn sinh sôi ra được nữa: mất đất nông nghiệp. Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá cũng là quá trình mất đất nông nghiệp diễn ra nhanh mà dường như khó hãm lại. Diện tích đất trồng lúa nước năm 2005 là 4.165.200 ha, giảm 302.500 ha so với năm 2000. Nhiều cánh đồng màu mỡ đã biến mất, thay vào đó là khu công nghiệp. Liệu có phải đây là chuyện chẳng đặng đừng không, hay là do thiếu một tầm nhìn xa và ý thức về trách nhiệm đối với nông dân trong cái gọi là “quy hoạch” các khu công nghệp và đô thị của một số nơi. Để chiều lòng các nhà đầu tư, thay vì dành những nơi đất bạc mầu, không thuận cho canh tác để quy hoạch các khu công nghiệp, nhằm tránh phải đi xa hơn một chút, người ta chào mời ngay những thửa ruộng trồng lúa bên vệ đường. Tốt quá còn gì, đỡ phải chi phí cho đầu tư cơ sở hạ tầng. Thế nhưng, đừng quên rằng, cứ ưu đãi nhà đầu tư kiểu ấy thành ra bạc đãi người nông dân.

Được đền bù, một khoản tiền mà xưa nay, người nông dân, từ đời ông, đời cha của họ chưa bao giờ mơ thấy. Nhưng không phải ai cũng biết cách làm cho đống tiền đó sinh sôi, nảy nở khi mà bao đời nay, họ chỉ biết kiếm sống từ đất. Và thế là, đối với không ít người, đất thì đã mất, đống tiền “đền bù” đã cạn dần vào những chi phí không hợp lý, nhiều gia đình nông dân trở nên điêu đứng, thất cơ lỡ vận.

Quá trình mất đất nông nghiệp ấy diễn ra rất nhanh. Vì, ngoài chuyện “quy hoạch ưu đãi và bạc đãi” nói trên, ở nhiều nơi, nhất là ở đồng bằng Sông Hồng, do chi phí sản xuất quá cao, nông dân phải bỏ ruộng. Nhìn chung, năng suất lúa cả 5 năm qua chững lại ở mức trên 5,4 tấn/ha, nhưng giá vật tư đầu vào và chi phí sản xuất cứ tiếp tục nâng cao. Đối với nhiều hộ nông dân, trồng lúa không kiếm sống được, người ta buộc phải cầm cố hoặc bán đứt mảnh ruộng vốn là khát vọng bao đời của họ để “ra tỉnh” tìm việc làm. Thế là, ruộng đất bị mất dần mà việc làm mới thì quá khó kiếm.

Mặt khác, một số hộ nông dân tuy đã năng động chuyển đổi ngành nghề, phát triển những hoạt động phi nông nhưng vẫn chưa thật vững tin vào cái nghề không là “nông vi bản” ấy nên vẫn không dám nhường ruộng cho người khác mà vẫn cứ giữ lấy cái nền tảng “nông vi bản” (!), tuy phải thuê người làm hay quảng canh không có năng suất và hết sức lãng phí quỹ đất nhỏ nhoi có trong tay. Đấy là chưa nói đến chuyện “quỹ đất nhỏ nhoi” của từng người sẽ thành không nhỏ đối với nhiều cái nhỏ nhoi góp lại. Và rồi, cái quỹ đất trôi nổi ấy sẽ tham gia vào thị trường đầu cơ. Nguyên do là vì thiếu biện pháp bảo vệ đất nông nghiệp. Một hệ luỵ khác nữa không thể không đề cập đến: những người thiếu việc làm ở nông thôn sẽ đến kiếm việc làm ở đô thị. Rồi điều không ai mong muốn đã xảy ra: sự dịch chuyển cái nghèo từ nông thôn ra đô thị do hiện tượng di dân nói trên. Theo ước tính, hiện nay có đến từ 9 -10 triệu lao động ở nông thôn thiếu việc làm, tức là gần ¼ lực lượng lao động, chủ yếu là thanh niên.

Thường nam giới ra đi trước. Khi đã kiếm được việc làm thì mới có thể đưa gia đình ra theo. Công việc đồng áng do phụ nữ đảm nhiệm. Có một điều cần lưu ý là, phụ nữ nông thôn trên 35 tuổi khó có cơ hội tìm việc làm ở đô thị, ở các khu công nghiệp. Đa số phụ nữ nông dân, vì vậy, buộc phải “đảm đang” công việc đồng áng nặng nhọc đó. Cái xu thế “nữ hoá nông nghiệp” này góp phần giảm sút phương thức thâm canh. Năng suất giảm sút sẽ làm cho cái nghèo tăng lên. Trong lúc đó, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ngành nghề ở nông thôn còn quá chậm: tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ chỉ tăng từ 10.88% năm 1996 lên 17,35% năm 2004. Ấy thế mà, năm 2005 dân số cả nước là 83, 12 triệu người thì khu vực nông thôn chiếm đến 73,03%. Nông thôn cũng chiếm đến 75% tổng số 42,7 triệu lao động trong cả nước. Đó là những sự thật cần phải dám nhìn nhận một cách tỉnh táo.

III.

Sau vấn đề ruộng đất, vấn đề môi trường vừa dẫn ra là những nhân tố tác động dữ dội đến đời sống người nông dân ở nông thôn. Nhưng, cùng với những cái dó, trực tiếp hơn nữa, bức xúc hơn nữa, là gánh nặng đóng góp đang trĩu nặng trên đôi vai người nông dân mà vừa qua báo chí đã phản ánh: “Một hạt thóc, 40 khoản đóng góp”, “Quỹ phí… đè nông dân”: tính bình quân mỗi hộ phải đóng góp từ 28-30 khoản, trong đó hơn 20 khoản phải đóng cho UBND xã và các tổ chức đoàn thể như các loại quỹ an ninh quốc phòng, xây dựng giao thông, hỗ trợ nông dân, xây dựng trường học… Ngoài ra từ 10-14 khoản phí dịch vụ do HTX thu, như tuỷ lợi phí, bảo vệ thực vật, bảo vệ đông điền… Đáng lưu ý hơn, quỹ phí đó “đè” trên tương lai của dân tộc: các học trò nghèo nông thôn, đang phải gánh chịu “Ma trận phí trên đường đến trường”: 20.000đ, 40.000đ, thậm chí 150.000đ là các khoản phí xây dựng trường mà các học sinh nông thôn vốn rất nghèo đang hải đóng mỗi năm ngoài học phí. Đấy là chưa kề hàng loạt chi phí khác như tiền điện, tiền nước, vệ sinh môi trường, khuyến học, tiền gửi xe…” (Nông thôn Ngày nay, 10 và 11.4.2007)

Tình trạng “Loạn thu phí và lệ phí ỏ nông thôn”, “Các khoản thu ngập đầu”, “Chạy trời không khỏi nắng” phổ biến và “đều khắp” cả nước. Hãy chịu khó đọc xấp biên lai thu tiền của một gia đình nông dân ấp Hiệp Hưng, xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang: lao động công ích: 120.000đ, an ninh quốc phòng 24.000, kiên cố giao thông nông thôn: 500.000đ, xe gắn máy 150.000đ, phí sử dụng nguồn nước: 240.000đ, quỹ khuyến học 20.000đ, quỹ phòng chống thiên tai 6.000đ… Những năm trước, có năm, gia đình anh phải đóng phí thuỷ lợi 339.000đ, phí đê bao 598.000đ, thuế trồng cây hằng năm 336.000đ. Nhưng đó cũng chỉ mới là mức thu với chỉ có hai lao động chính với vài công đất ruộng. Với hộ có nhiều người trong độ tuổi lao động, có đất trong vùng quy hoạch làm đê bao vụ ba thì số tiền nộp hằng năm còn nhiều hơn: “Lúa ngoài đồng vừa trổ thì xã đã gửi giấy bắt đóng trong vòng năm ngày sau khi thu hoạch. Vừa gặt xong lo bán lúa ngay tại ruộng để có tiền nộp. Bằng không, xã cứ mời lên, mời xuống, khổ lắm”. (Tuổi Trẻ, 2 và 3.5.2007).

Sẽ là quá dài, nếu tiếp tục trích dẫn những khoản phí và lệ phí đang trĩu nặng trên đôi vai người nông dân trước hết là những đôi vai mảnh mai, gầy yếu của những người mẹ, người vợ nông dân đầu tắt mặt tối “hay lam hay làm, chân nam đá chân chiêu” từ đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền Trung, cho đến đồng bằng Sông Lửu Long, nông dân các dân tộc miền núi phía Bắc và Tây Nguyên cũng đều “chạy trời không khỏi nắng”! Điều cần lưu ý là, gánh nặng “các khoản thu ngập đầu” đó lại rút ra từ chiếc hầu bao lép kẹp của người nông dân.

Sau 20 năm Đổi mới, chuyển đổi sản xuất nông nghiệp rất chậm. Về thuỷ sản có tăng chút đỉnh, song trồng trọt và chăn nuôi thì không. Nếu năng suất lao động toàn xã hội tăng lên khá thì nông nghiệp-nông thôn, nơi chiếm một tỷ lệ lao động rất cao chững lại: 2005 tăng 3,7%, 2006 chỉ còn 2,64%. Đấy là chưa nói đến sức tàn phá của sâu bệnh, dịch bệnh có chiều gia tăng vì nhiều lý do trực tiếp và gián tiếp, môi trường sống bị đe doạ càng làm cho gánh nặng càng trĩu nặng hơn trên đôi vai người nông dân, trong khi cơ hội học tập, có việc làm thì khó khăn hơn đô thị rất nhiều.

Nêu lên một vài con số, dăm ba hiện tượng, đôi điều so sánh chỉ để gợi ra một suy nghĩ: Những vấn đề này hoàn toàn không mới, những người nông dân được nói đến ở đây cũng không hề là “những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ” trong một thoáng hoài cổ của cụ Vũ Đình Liên. Họ là những con người “hiện đại” vì cùng thở hít khí trời của thời đại hội nhập! Mới mười năm trước đây thôi, nơi quê hương cả những “lá cờ đầu” của “chị Hai Năm Tấn quê ở Thái Bình”, đã bộc phát ra sự kiện Thái Bình 1997 hẳn nhiều người còn nhớ.

Để khỏi phải diễn giải dài dòng, xin chép ra đây nguyên văn một đoạn trích từ “Báo cáo sơ bộ về cuộc khảo sát xã hội tại Thái Bình cuối tháng sáu, đầu tháng bảy năm 1997” do Viện trưởng Viện Xã hội học hồi ấy chỉ đạo và tổng kết gửi Thủ tướng Chính phủ ngày 8.8.1997, tiểu mục II của Báo cáo:
Sức dân bị khai thác quá mức, bị sử dụng lãng phí và bị tham nhũng quá mức:

Là một tỉnh nông nghiệp, mật độ dân số quá cao và có một thời tỉ lệ phát triển dân số quá lớn. Thái Bình cho đến nay [tức là 1997] vẫn chỉ trông chờ vào việc trồng lúa. 102.360 ha đất nông nghiệp của Thái Bình đã được thâm canh đến mức tối đa và nhìn chung năng suất cũng đã đạt đến mức tối đa: 10-15 tấn/ha 1 năm; tức là khoảng từ 2 cho đến 2,5 tạ/sào/vụ. Bình quân đất canh tác mỗi khẩu dao động từ 1 tới 1,5 sào/người. Ước tính năm 1997 trung bình mỗi người dân Thái Bình xuất khẩu không quá 15 đô la, trong đó một phần không nhỏ trông chờ vào xuất khẩu lúa. Ðược mùa nên giá lúa đã rơi mạnh; giá lúa trung bình tại các chợ là 1.200đ/kg thóc và sau vụ Ðông Xuân 1997 Thái Bình còn hàng chục vạn tấn chưa có thị trường tiêu thụ.

Nhìn từ góc độ hộ gia đình, tình hình lúa ít sáng sủa hơn. Theo nhiều người đánh giá, nếu cần mua 200đ thuốc lào cũng phải bán lúa và 5 cân mới mua nổi 1 bao Vinataba (Thời báo Kinh tế, 16/7/1997). Những nguồn thu nhập khác ngoài lúa như chăn nuôi là thấp và ít ỏi. Chúng tôi dẫn ra đây trường hợp một nông dân đã từng tham gia biểu tình ở xã Tây Phong, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Gia đình anh ta 5 người với 7,5 sào ruộng có thể có thu nhập tối đa là:

7,5 sào X 4 tạ = 30 tạ = 3 tấn = 3.600.000đ
2 tạ lợn X 10.000đ/kg = 2.000.000đ
Các khoản khác: = 2.000.000đ
Tổng cộng: = 7.600.000đ

Với các khoản chi phí chủ yếu là:

7,5 sào X 1 tạ = 7,5 tạ = 1.000.000đ
2 tạ lợn X 5.000đ/kg = 1.000.000đ
Tổng cộng: = 2.000.000đ

Các khoản đóng góp cho chính quyền:
Vụ đông : 71,1 tạ = 850.000đ
Vụ mùa : 5,7 tạ = 680.000đ
Cộng: = 1.530.000đ
Tổng cộng: = 4.100.000đ

Thu nhập bình quân 800.000đ/người/năm

Có lẽ đây là một trường hợp không mấy cá biệt, mà có thể xem như khá phổ biến đối với Thái Bình.
Đây là câu chuyện mười năm trước và là một trong những nguyên nhân đẩy tới “Sự kiện Thái Bình 1997” chúng tôi sẽ phân tích thêm ở dưới.

Nhưng xin hãy đọc tiếp những thông tin của mười năm sau sự kiện đó, năm 2007, do Phó Cục trưởng Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn (Bộ NN & PTNT) đưa ra:
Nếu liệt kê ra các “đầu khoản” mà nông dân có thể phải đóng, thì lên tới hơn 40 khoản. Trong khi đó thu nhập từ trồng lúa lại rất thấp. Chẳng hạn, theo khảo sát tại Thái Bình và Hà Nam, mỗi hộ nông dân được giao khoảng 5-6 sào (trên 2.000 m2 ruộng). Nếu chỉ cấy 2 vụ lúa thì giá trị sản lượng đạt khoảng 4,5 triệu đồng /năm. Trong đó, chi phí sản xuất đã chiếm 2,3 triệu đồng (hơn 50%). Thu nhập còn lại của mỗi hộ chỉ là 2,2 triệu đồng, tức chỉ đạt khoảng 183.000 đồng /tháng. Nếu trừ đi các khoản phải nộp cho xã và các tổ chức thì mức thu mỗi hộ trồng lúa chỉ còn 170.000 đ /tháng”! (Nông thôn Ngày nay, 9.4.2007)
Tiếp theo, xin đọc một đoạn phóng sự điều tra của Quỳnh Thuận đăng cùng số báo trên:
Trong túp nhà lè tè ông Hoàng V (xã Trung Lộc) – một người mang di chứng chất độc da cam – ngồi co ro rồi chỉ lắc đầu khi nói về các khoản quỹ, phí. Nhà ông có 5 lao động với 6 sào ruộng nhưng sau khi trừ chi phí chỉ còn 2 triệu đồng /năm. Ngần ấy tiền trang trải cho cả gia đình sống trong 12 tháng, rồi cả lo chuyện ốm đau, học hành của con cái. Bà Nguyễn Thị N – người gầy quắt, khắc khổ, khi được phóng viên NTNN hỏi đã tuôn luôn: Một lô những khoản quỹ, phí mà ruộng lúa 5 sào nhà mình “gánh” phải: Thuỷ lợi phí là 125 kg thóc; Công ích là 250 ngàn; Kiến thiết là 250 ngàn đồng”. Nhiều bà con nông dân xã Trung Lộc cho hay, trong các cuộc họp đã nhiều lần đề xuất, ý kiến về việc giảm bớt quỹ, phí cho nông dân, nhưng… Họ cũng đưa ra lập luận đáng đau đầu: Đất canh tác thu hẹp dần mà giá nông sản không tăng; Lương cán bộ, công chức tăng, giá cả leo thang mà thu nhập từ ruộng đồng lại ngày càng giảm xuống vì các loại quỹ, phí địa phương “đè”.

Xã Đồng Lộc (Can Lộc) là xã từng được cả nước biết đến về một thời bom đạn cày xới và chịu hậu quả nặng nề sau chiến tranh. Mong muốn tìm hiểu thêm sự khó khăn của đời sống bà con nông dân do lắm phí, nhiều quỹ, chúng tôi tìm gặp ông Phan Khương – Chủ tịch Hội Nông dân xã. Đáng tiếc, ông từ chối khéo: “Những khoản phí và đóng góp của người dân tôi nắm đây cả nhưng không thể cung cấp cho nhà báo được vì mình là cấp dưới, dễ bị quở trách. Anh hãy đến gặp Chủ tịch xã”.
Thì ra, nông thôn “truyền thống” đã khởi động cho Đổi mới với “khoán”, để tác động đẩy tới sự chuyển động của đô thị và công nghiệp “hiện đại”! Đúng là, nói theo ngôn từ bóng đá, chính cái “truyền thống” đã cứu cho cái “hiện đại” một bàn thua trông thấy! Thế rồi, thành quả của Đổi mới thì đô thị thụ hưởng phần lớn, dường như nông thôn chẳng được bao nhiêu. Sau mười năm “sự kiện Thái Bình 1997”, một tình hình mới đáng lưu ý: “Quá trình công nghiệp hoá làm 45% nông dân Thái Bình phải bỏ nhà đi làm ăn xa. Nông dân sống gần ngay khu công nghiệp nhưng không có việc làm. 6408 hộ nông dân ở 101 xã bỏ ruộng do giá trị lao động quá thấp” (Nông thôn Ngày nay, 13.4.2007).

Để cụ thể hoá điều này, xin gợi lên cận cảnh vài nét phác thảo nhanh tại một xã: Bước trên đường làng, không phải khó khăn gì để tìm thấy những nét mới đập ngay vào mắt: những ngôi nhà gạch khang trang, một tầng có hai tầng, ba tầng có nằm sát cạnh những mái nhà tranh quen thuộc. Hỏi ai là chủ nhân của những ngôi nhà đó. Được cho biết: chủ nhân là những người có con em “xuất khẩu” lao động, ra nước ngoài hoặc làm ăn ở đô thị trong nước, gửi tiền về để gia đình xây nhà. Và cùng với những gia đình có người “xuất khẩu” lao động gửi tiền về xây nhà đó, là nhà của các quan chức xã và người nhà của họ.

Những ngôi nhà tranh quen thuộc thì vẫn như bao đời nay. Những gia đình thuần nông, sống bằng nghề trồng lúa, có chen vào hoa màu, song vẫn là “nông vi bản”, thì không có bao nhiêu thay đổi. Nghèo vẫn hoàn nghèo. Cũng có nghĩa là, quá trình “phát triển nông thôn” trong “giai đoạn mới” chưa giúp người nông dân trồng lúa thoát được nghèo. Có thể có những hộ khấm khá lên nhờ nuôi tôm, nhưng khi tôm bệnh chết hàng loạt thì phá sản. Lại phải nai lưng ra lấp hồ nuôi tôm mà trước đấy phải đầu tư bao công của nay phải trở lại trồng lúa. Song không phải cứ muốn phục hồi lại đất trồng lúa là ai đã trót biến ruộng cấy lúa thành hồ nuôi tôm cũng đủ sức làm được. Cũng vì vậy, đã có nhiều hộ bỏ ruộng, xoay xở kiếm sống cách khác, mà phổ biến là những lao động chính tìm cách kiếm việc tại đô thị. Không chỉ lên Hà Nội, có người vào tận thành phố Hồ Chí Minh, có người ra Quảng Ninh, có người đi Tây Nguyên. Thế là những khấm khá có được dễ thấy nhất, chắc ăn nhất, là nhờ sự hỗ trợ từ đô thị và công nghiệp một cách rất thô sơ và “truyền thống”: đồng tiền kiếm được từ nơi xa gửi về.

Và sự khấm khá thứ hai mà lý do thật khó nói, hoặc không tiện nói ra, đó là… tham nhũng? Đồng lương của cán bộ, thu hoạch từ lao động sản xuất hoặc kiếm thêm bằng nghề phụ của họ thì dân quá rành, làm sao đủ tiền xây nhà như vậy, ăn tiêu như vậy. Người nông dân có thể kể vanh vách nhà này nhà nọ vì sao mà “phất lên”, của ai, đứng tên ai, nhờ ai đứng tên. Có người “ăn vụng chùi mép sạch”, nhưng khối kẻ ăn vụng một cách đường hoàng và công khai, vì “không ăn cũng thiệt”. Nhiệm kỳ có niên hạn, không tranh thủ “xơi” ngay thì “nhỡ thời cơ”.

Thông tin “mới” nhất mà chúng tôi thu nhận được là một chiều cạnh của vấn đề an toàn xã hội ở nông thôn. Câu chuyện được mở đầu như sau: “nhà nước đang hô hào chống cúm gia cầm, còn chúng em thì đang phải ngủ với gia cầm đấy ạ”. Hỏi tại sao. Được trả lời: “tối đi ngủ, phải bắt gà, vịt, ngan, ngỗng nhốt vào lồng, để dưới gậm giường vì để ngoài chuồng thì chúng bắt ngay”. Hỏi ai bắt, trộm trong xã hay ở ngoài vào?”. Trả lời: “Ngoài vào thế nào được. Chỉ trong xã. Mà chúng tôi biết rõ những ai trộm. Toàn cánh hút chích ma tuý cả. Chúng ngang nhiên nói rõ: chúng tao chỉ lấy cắp gà, chẳng làm gì nên tội. Giết người như con bí thư xã, mà cũng chỉ đi tù vài năm đã trở về, trộm cắp vặt thì có là cái thớ gì”. Công an xã biết, nhưng cũng lờ đi cho đỡ “rách việc”. Thế là dân chúng tôi phải tự bảo vệ lấy mình. Nhà tôi có 3 mặt con trai, đủ gậy gộc, chúng không dám làm gì vào đêm hôm. Nhưng nhà neo đơn, toàn đàn bà trẻ con thì hãi lắm”. Lẽ nào, sau 62 năm xây dựng chính quyền “của dân, do dân và vì dân” trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, nơi đây, tại quê hương mình, người dân vẫn: “phải cần con trai để có lực lượng tự bảo vệ”! Phải cần đến sức mạnh cơ bắp và quan hệ huyết thống để tự bảo vệ, thì rồi cái gì sẽ diễn ra đây? Cá biệt chăng? Hy vọng như thế!

Vậy thì trong một cá biệt này, luật pháp, bộ máy cầm quyền, lực lượng công an xã, các đoàn thể quần chúng như thanh niên, phu nữ, hội nông dân… góp gì vào vấn đề an toàn xã hội? Và nếu vậy thì khẩu hiệu “gia đình chỉ có từ một đến hai con”, con trai con gái đều như nhau, có sức thuyết phục để đảm bảo chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình như thế nào đây? Cũng để khỏi phải dài dòng phân tích, lại xin trích ra đây một đoạn trong “Báo cáo Khảo sát Thái Bình năm 1997”:
Cái cơ cấu làng họ lâu nay tưởng như chìm sâu trong ký ức giờ đây lại sống lại và trở thành chỗ dựa mạnh mẽ cho đời sống thôn xã. Hình ảnh những cán bộ xã Mỹ Lộc (Thái Thuỵ) phải co cụm trên nóc nhà mình với sự bảo vệ của những người trong gia tộc và thôn xóm, phải chăng là điều cảnh báo cho sự bất lực của bộ máy quản lý mà lâu nay chúng ta cứ ngỡ như là vững chãi và sự nhắc nhở quá trình phục hồi sức mạnh hệ thống thân tộc, làng họ cổ truyền. Sự khôi phục những sinh hoạt gia tộc và làng xã truyền thống trong những năm gần đây có mối liên hệ gì không với những sự biến này? Năm 1993, các đảng viên thuộc hai chi bộ ở xã Thuỵ Hải (Thái Thuỵ) đã tổ chức dân 2 thôn cầm vũ khí đánh nhau vì tranh chấp đất. Người ta cũng rất tích cực trong việc đòi tách hợp tác xã và đòi chia lại ruộng đất giữa các thôn. Những câu chuyện về “chi bộ họ ta”, về sự kế nghiệp các bí thư và chủ tịch đã nghỉ quản lý bằng con, cháu của họ vốn không chỉ xảy ra gần đây mà nó đã tiềm tàng từ lâu trong cộng đồng làng xã khi đi vào hợp tác hoá để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Việc khôi phục các quan hệ và sinh hoạt văn hoá truyền thống ấy chính là cái giá đỡ có hiệu quả cho quá trình chính trị hoá đời sống nông thôn hiện nay. Nó có thể có ích cho công cuộc Đổi mới, nếu nó được hướng theo những mục tiêu chung của đất nước và thời đại. Trong tình thế ngược lại nó sẽ là lực cản to lớn cho việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân và sự đi lên của đất nước trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cần lưu ý rằng: “làng là tế bào của xã hội Việt Nam. Xã hội Việt Nam là sản phẩm của tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người dân Việt trồng trọt. Hiểu được làng Việt là có trong tay cơ sở tối thiểu và cần thiết để tiến lên hiểu xã hội Việt nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung trong sự năng động lịch sử của nó, trong ứng xử cộng đồng và tâm lý tập thể của nó, trong các biểu hiện văn hoá của nó, cả trong những phản ứng của nó trước những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó” (Nguyễn Từ Chi).

Chúng ta đang chứng kiến “những phản ứng của làng ” trước những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó.

Nông thôn, nông dân và bài học Thái Bình

1 2

IV.

“Những phản ứng của làng” vừa thuần phác, vừa dữ dội, vì hình thái mà lịch sử đương đại đặt ra trong một bối cảnh hoàn toàn mới. Đó là khi mà thể chế chính trị này được xác định là của dân, do dân và vì dân. Mà trong khái niệm dân, nông dân chiếm đến gần ba phần tư. Việc hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân do dân và vì dân đang gắn liền với quá trình xây dựng xã hội dân sự, nhằm phát huy đến mức cao nhất tính tự quản của các tầng lớp nhân dân tham gia vào các hoạt động mà không nhất thiết ở các lĩnh vực đó nhà nước buộc phải trực tiếp nhúng ta vào. Bằng thực tiễn của đời sống nông thôn, nông nghiệp và nông dân, ngày càng thấy nổi bật lên một vấn đề bức xúc: tiến trình dân chủ hoá xã hội chỉ có thể tiến triển được một cách bền vững, khi gắn liền với việc xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, phát huy tính tự quản của người dân đảm đương những công việc mà Nhà nước không cần phải bao biện.

Ấy vậy mà, có một thực tế cần suy nghĩ, với tất cả khuyết tật vốn có, nhưng nền “dân chủ làng xã” xưa kia cũng đã nuôi dưỡng được phần nào tính “tự quản” đó. Tác giả của cuốn sách La commune anammite, P. Ory, đã từng lưu ý những nhà cai trị thực dân rằng: “làng của Việt Nam tự quản lấy chính nó. Nhà nước không nên can thiệp vào công việc của làng, trừ phi làng không thực hiện nghĩa vụ của mình là đóng thuế thân, thuế đầt, đi phu, đi lính” (Challamel-Paris. 1894. p.16).

Quả đúng như vậy. Các tổ chức tộc họ, phe giáp, phường hội… với những vai trò khác nhau phải lựa chọn cách ứng xử trước áp lực của lệ làng, của hương ước. Sự chế ước của dòng họ, nhân tố có khả năng trung hoà các quan hệ khác nhau, tạo nên đời sống tương đối ổn định của cái làng Việt Nam trong tính tự quản vốn có của nó. Những cái đó đã mất đi cùng với sự ra đời một cách tổ chức xã hội mới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt là sau “cải cách ruộng đất” ở miền Bắc.

Một mặt, cơ cấu xã hội ở nông thôn được hình thành trong quá trình hợp tác hoá đã đơn giản hoá đến mức tối đa. Diện mạo xã hội nông thôn chỉ còn lại một bên là người nông dân với các hộ gia đình xã viên và bên kia là Ban Chủ nhiệm hợp tác xã, Đảng uỷ, Ủy ban và các đoàn thể, bao gồm cả Mặt trận Tổ quốc đều đã được “nhà nước hoá”. Các hình thức tự quản vốn có hầu như bị xoá sạch. Không có một lực lượng xã hội nào được tồn tại có tính tự trị, tự quản tương đối độc lập nữa. Người ta đã không hiểu rằng, khi phá vỡ tính tự trị của làng xã thì cũng đồng thời xoá mất tính trung hoà do sự chế ước và dung hợp của những quan hệ cộng đồng tạo nên.

Sự tích tụ những bất đồng, mâu thuẫn giữa hai khối lợi ích và quyền lực: một bên là đông đảo bà con nông dân, bên kia là tầng lớp lãnh đạo mới mà không còn yếu tố trung hoà nào nữa sẽ ươm mầm cho những bùng nổ xã hội. Đấy là chưa chưa nói đến một vấn đề nhức nhối khác là những hệ luỵ của những sai lầm trong “cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức” mà dù đã sửa sai cũng không sao hàn gắn lại được nguyên vẹn những đổ vỡ trong đạo lý truyền thống gia đình, làng họ, xóm giềng “tối lửa tắt đèn có nhau”, “một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”. Những đấu tố, đặc biệt là “tố điêu” để diễn ra thảm cảnh con tố cha, vợ đấu chồng, con rể đặt chuyện tố mẹ vợ, con dâu vu oan giá hoạ cho bố chồng, họ hàng không nhìn mặt nhau, xóm giềng cảnh giác, giữ miếng nhau vì sợ là “cơ sở”, là “chuỗi” của “ông đội”v.v… Những chùa làng biến thành chuồng trâu, đình làng trở thành kho hợp tác, nhiều di tích văn hoá vật thể và phi vật thể bị huỷ hoại mà việc phục hồi trở lại chỉ được phần nào. Những vết thương chưa lành ấy, lúc “trái gió trở trời” có thể nhức nhối trở lại. Đây là điều không thể lẩn tránh, ngược lại, phải nhìn thẳng vào sự thật để chủ động tìm ra giải pháp. Mà giải pháp có thể “trị liệu” những chấn thương tinh thần trong đời sống gia đình và đời sống cộng đồng nông thôn lại đòi hỏi một tầm nhìn xa, thật trung thực và không câu nệ, đi liền với một tấm lòng nhân ái rộng mở để thấu hiểu được những hệ luỵ về đời sống tinh thần không thể chữa trị một cách giản đơn. Sự sòng phẳng với lịch sử là phương thuốc hay nhất cho việc xây dựng văn hoá, “nền tảng tinh thần của đời sống xã hội” ở nông thôn.

Mặt khác, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, đảm bảo dân chủ, nâng cao dân trí, xã hội hiện đại cần đến một loạt các thiết chế xã hội để đảm bảo sự hiểu biết lẫn nhau tốt hơn giữa con người trên căn bản tôn trọng cá nhân. Xã hội hiện đại còn là một sự hài hoà giữa lao động và sử dụng hợp lý thời gian nhàn rỗi, đặc biệt là khi có sự tăng trưởng kinh tế.

Chúng ta đứng trước “hiện tượng Thái Bình”, một trong những tỉnh khá nhất của nông thôn Bắc Bộ, kinh tế có lên tuy chưa nhiều so với tiêu chuẩn hiện đại nhưng là khá cao so với trước năm 1945. Học vấn cũng vậy. Ấy thế mà việc tạo ra những điều kiện để sử dụng thời gian nhàn rỗi thì ở nhiều nơi là gần như con số không. Thanh niên sau khi được học hành đã không thể tìm được một cách giải trí tích cực nào ngoài việc giải trí thụ động là xem tivi. Trong khi đó tuổi kết hôn lại được nâng cao, đưa tới chuyện không mấy ai chú ý: thừa sinh lực. Một số khá lớn thanh niên, cũng không có chỗ để thực thi trình độ hiểu biết của mình do phải tuân thủ truyền thống “trọng xỉ” có tự bao đời. Lớp trẻ, dù cho đã có văn hoá, nhưng xem ra vẫn còn “trẻ quá” để thay thế các bậc cha chú, do vậy họ cũng chưa có chỗ để thi thố tài năng, sức lực. Trong các đám đập phá ở nông thôn Thái Bình dạo ấy, người ta quan sát thấy chủ yếu là thanh niên, với những “mô hình hiệp khách” được du nhập một cách bập bõm qua các phương tiện thông tin đại chúng, cũng là điều để chúng ta suy nghĩ kỹ hơn về nguyên nhân.

Ðối với các nhóm tuổi khác, đặc biệt là phụ nữ, tình hình còn bi kịch hơn. Ruộng đất còn ít, nghề phụ không có, người ta không biết sử dụng lao động của mình làm gì. Những truyền thống và tập tục văn hoá ngày xưa thì phần lớn đã bị tiêu vùi trong những năm tháng trước đây. Việc phá đình chùa cuối cùng ở Thái Bình diễn ra vào những năm đầu thập kỷ 80. Một sự trống trải trên bình diện văn hoá tinh thần, cái dù sao đi chăng nữa cũng đào tạo cho con người ta một nhân cách, dù là nhân cách cam chịu. Sự trống trải đó sẽ dẫn tới những hệ luỵ mà không phải lúc nào người lãnh đạo cũng cảm nhận được. Chưa có cái gì để thay thế các vở chèo “sân đình” trong khi “văn hoá mới” được thể hiện trong lối sống đô thị tràn về đang hướng nhiều về vật chất, lại cao hơn mức mà kinh tế nông thôn Thái Bình cho phép.

Những tổ chức, thể chế xã hội được xây dựng nên trong những năm tháng đã qua như Ðoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội phụ lão v.v… dần dần rơi vào trạng thái phần nào “hữu danh vô thực”. Những tổ chức này có một thời đã đóng một vai trò rất tích cực, nhưng giờ đây hình như không còn sức hấp dẫn người dân nữa. Tất cả những thiết chế xã hội này đều vẫn đang hoạt động, nhưng có vẻ như nó đã không đáp ứng được mục tiêu: tạo một sự đồng cảm xã hội. Trong khi đó, những loại hình tổ chức khác bắt đầu được lập ra: các hội từ thiện, các tổ chức phi chính phủ v.v… lại cũng chưa phát huy được tác dụng bao nhiêu. Người ta dường như cũng cảm nhận rằng, những loại hình thức tổ chức đó cũng chẳng đáp ứng được gì cho nhu cầu tinh thần và giao tiếp xã hội của người dân vì vẫn là những con người cũ làm những việc đó. Do vậy, một mặt người dân tiêu chỗ tiền phụ trội ít ỏi có được của họ vào ma chay, cưới xin và những cái hủ tục khác nữa như uống rượu hoặc đánh số đề. Chao ôi số đề, khi chui lọt vào luỹ tre làng đã gây ra bao thảm cảnh. Mặt khác, tâm linh lại hướng mạnh về tôn giáo tín ngưỡng.

Có thể thấy ở nông thôn tất cả các bà, các chị từ 30 tuổi trở lên đều chăm chỉ tham gia lễ chùa hoặc đi nhà thờ đều đặn. Chỉ riêng quan sát ngôi chùa ở nông thôn thì có thể thấy thiết chế này trong bối cảnh hiện nay là trở nên rất hữu ích cho người dân nông thôn: thoả mãn phần nào nhu cầu văn hoá tinh thần, rèn luyện tình người cho con người. Hơn thế, nó còn là nơi cưu mang cho những cuộc đời bất trắc, cái mà ở thời nào cũng có. Cùng với ngôi chùa làng, nhiều nơi, nhà thờ Thiên chúa giáo cũng đang hoạt động tích cực như một lực lượng cứu rỗi linh hồn. Họ có đủ đức tin và nguồn tài chính để đi vào trong quần chúng. Ðặc biệt là với một nông thôn mà không có gia đình nào không có người phải nằm xuống trong cuộc chiến tranh thì vấn đề đời sống tâm linh thật sự là một nhu cầu sâu thẳm. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các ni sư giữ chùa làng là những người phụ nữ có số phận dở dang, trong số đó có nhiều người trở về sau những năm tháng chiến đấu trong trong hàng ngũ thanh niên xung phong, chống Mỹ cứu nước. Ðiều này thật đáng phải suy nghĩ.

Cần hiểu rằng, với Đổi mới, người nông dân trong các hộ tiểu nông có sự độc lập tương đối trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp, không còn quá bị lệ thuộc vào Ban Chủ nhiệm HTX và Đảng uỷ và Ủy ban như trước. Rồi, bộ đội xuất ngũ, một số người đi đây đi đó chứ không chỉ bị ràng buộc bên trong luỹ tre làng, được tiếp nhận những thông tin mới, họ đã trở về sống ở làng. Họ không dễ tuân phục và cam chịu trước những hư hỏng của lớp “cường hào mới”, có khi vừa ngoi lên từ trong số họ.

Phải chăng vì thế, khi sự bạo động bùng lên thì các tổ chức Đảng ở các xã có chuyện xảy ra dường như tê liệt, nhiều đảng viên lẩn tránh hoặc đứng nhìn, hầu hết đoàn viên, hội viên không hề có phản ứng, đấy là chưa nói một bộ phận không ít đã tham gia vào các sự kiện. Khi mà tham nhũng, hệ luỵ của sự thoái hoá biến chất của người có chức, có quyền mà “trăm con mắt đều nhìn vào, trăm ngón tay đều chỉ vào” (Phạm Văn Đồng) đang là nỗi bức xúc không chỉ ở nông thôn, thì những “người trở về” kia sẽ là ngòi nổ.

Không thể không lưu ý rằng, cộng đồng nông thôn từ xa xưa sống gắn bó với nhau, quá rành rẽ về nhau, đầu làng có ai vừa đến, cuối làng đã hay, thậm chí bữa cơm bên nhà hàng xóm có món gì xem ra bên này thông rõ tỏ tường hết, huống hồ lại tự nhiên giàu vọt lên, của ăn của để thì giấu sao được con mắt của bà con, chòm xóm. Đứng trước tình hình “nhiều người có chức có quyền trong hệ thống tổ chức của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể quần chúng hư hỏng quá, thoái hoá, biến chất, chạy theo chức quyền, tiền, danh và lợi, những người ấy đang làm cho một bộ phận không nhỏ trong nhân dân ta ngày càng giảm lòng tin vào Đảng, đưa đến tình hình nguy kịch không thể coi thường” mà đồng chí Phạm Văn Đồng đã cảnh báo trong bài viết cuối cùng, sự phẫn nộ bùng lên vì có sự khơi ngòi đó.

Bài học về Thái Bình là bài học về sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị ở nông thôn. Bài học đó liệu có còn nguyên vẹn không? Liệu đó có phải chỉ là bài học riêng cho Thái Bình hôm nay, cho nông thôn đồng bằng Sông Hồng, nơi đất chật người đông, hay cũng là bài học đặt ra với nông thôn của cả nước?

Xem ra, người nông dân của cụ Đồ Chiểu “Côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó… việc cuốc, việc cày, việc bừa việc cấy, tay vốn quen làm” hình như cũng không khác mấy với anh nông dân ở ấp Hiệp Hưng, xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đã nói ở trên, cũng lâm vào tình huống như người nông dân Thái Bình về các khoản đóng góp. Rồi Hà Tĩnh mà trong “Khúc tâm tình” thiết tha sâu lắng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý: “Đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tỉnh, Nhớ núi Hồng Lĩnh, nhớ dòng sông Lam…” cũng đang oằn lưng về các khoản đóng góp vốn được xếp thứ hai trong cuộc khảo sát do Phó Cục trưởng Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn (Bộ NN & PTNT) đưa ra như đã dẫn ở trên.

Đã đến lúc, phải dám phân tích kỹ lưỡng và đầy đủ về các khoản đóng góp, về sự hà lạm của những con người và tổ chức đặt ra và quy định những khoản đóng góp đó, cái gì là đúng, cái gì là phạm pháp, cùng với những nguyên nhân đẩy tới sự tuỳ tiện thái quá của người cầm quyền ở cơ sở, nơi mà cuộc vận động “dân chủ cơ sở” đang được nói đến rất nhiều.

Tháng 1.2007, trong chuyến về thăm lại địa bàn khảo sát năm 1997 mà hằng năm chúng tôi vẫn tiến hành, chúng tôi đã gặp một đồng chí cán bộ lâu năm của Thái Bình. Đồng chí cho biết: “Tôi vừa định viết một bài báo: Đừng quên bài học Thái Bình năm 1997’. Có nhiều trao đổi khó có thể đưa lên mặt báo. Nếu trước đây vấn đề ‘điện, đường, trường, trạm’ đã huy động quá mức sức dân và những khuất tất trong việc xây dựng giúp cho một số người phất lên, thì nay vấn đề lại diễn ra ở bình diện khác, tinh vi hơn, kín nhẹm hơn có, mà lộ liễu hơn cũng có. Song lộ liễu hay kín nhẹm đều có ‘đường dây thông suốt’ từ trên xuống, từ dưới lên, không dễ gì ‘đưa nhau ra toà’ được. ‘Không đưa ra toà’ được, nhưng những tồn đọng âm ỉ thì vẫn đang tích tụ, nếu không được giải quyết thì đó sẽ chính là nguyên nhân ‘đưa đến tình hình nguy kịch không thể coi thường’ đã được cảnh báo.” Chỉ tiếc bài viết có tính cảnh báo của người trong cuộc đó đã không đưa lên báo được. Và chắc chắn rằng, không chỉ có một trường hợp của bài viết không thành ấy.

Gặp một đồng chí nguyên là lãnh đạo của một tỉnh ở Đồng bằng Sông Cửu Long, qua trao đổi về chủ đề nhạy cảm nói trên, thật đáng suy nghĩ, khi sự khác biệt về sự thoáng đạt của thiên nhiên Nam bộ với ngút ngàn kênh rạch và định kỳ của những mùa nước nổi so với những khoảnh ruộng “tấc đất tấc vàng” nằm bên trong hệ thống đê Sông Hồng đã trường tồn mấy ngàn năm nay, nơi người nông dân Bắc bộ phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” để làm ra thóc gạo “dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần” đã đều cùng những vấn đề bức xúc như nhau được đặt ra: Nông dân, nông thôn!

Không được quên nông thôn, nông dân trong chương trình nghị sự đang đặt ra hàng ngày của nhà lãnh đạo, nhà khoa học, người làm chiến lược cũng như người làm quy hoạch, người đăng đàn diễn thuyết cao đàm khoát luận, cũng như người âm thầm tìm tòi giống cây, con giống, lai tạo, chiết ghép trong phòng thí nghiệm. Nông dân của chúng ta, bà con ở nông thôn chúng ta, chiếm gần ba phần tư dân số hiện đang còn khổ quá.

Sự chênh lệch mức sống, chất lượng sống về vật chất, nhất là về văn hoá giữa đô thị và nông thôn ngày càng kéo xa ra. Theo Niên giám Thống kê 2005, thu nhập bình quân đầu người hàng tháng tính theo giá thực tế thì: Năm 1999, bình quân cả nước là 295.000đ, đô thị là 516.700đ, thì nông thôn là 225.000đ. Năm 2002, bình quân cả nước là 356.1000đ, đô thị là 622.100đ, nông thôn là 275.100đ. Năm 2004, bình quân cả nước là 484.400đ, đô thị là 815.400đ, nông thôn là 378.100đ. Có thể thấy, thu nhập bình quân đầu người hàng tháng ở khu vực nông thôn tăng lên cả về số lượng tuyệt đối và về tỷ trọng song vẫn rất thấp, chỉ bằng 43,55% so với đô thị năm 1999, 44,22% năm 2002 và 46,37% năm 2004.

Mặt khác, khoảng cách thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất đang tăng lên, năm 2002 sự chênh lệch này là 8,15 lần, năm 2004 là 8,25 lần. Nguồn thu từ nông lâm thuỷ sản của nhóm trung bình, khá và giàu tăng đáng kể, nhưng nhóm nghèo thì tỷ lệ chỉ 1,13%.

Về chi tiêu bình quân hộ: của cả nước là 1.5412,34 nghìn đồng, chênh lệch về tổng chi tiêu giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất tăng lên từ 4,12 lần năm 2002 lên 4,17 lần năm 2004. Sự chênh lệch giữa chi tiêu bình quân của hộ khu vực đô thị đạt 26496,8 nghìn đồng, cao gấp khoảng 2,2 lần so với hộ nông thôn. Trong đó, tỷ trọng chi cho lương thực, thực phẩm chiếm nhiều nhất: 45,83%, chi cho y tế và giáo dục chỉ chiếm 5,07% và 5,31%!

Đem những con số nói trên đặt cạnh những con số về “phí” và “quỹ” mà người nông dân phải đóng góp mới thấy tính bức xúc của vấn đề. Đây chính là một biểu hiện dễ thấy về tính bền vững của sự phát triển đang diễn ra trong thực tế như thế nào.

Mục tiêu công bằng và dân chủ của xã hội văn minh mà ta hướng tới không cho phép kéo dài tình trạng đó. Đương nhiên, sốt ruột, muốn đốt cháy giai đoạn bằng chủ nghĩa bình quân đã từng là thảm hoạ của phát triển. Không ai ngu dại gì lại chui đầu vào cái ngõ cụt của chủ nghĩa duy ý chí! Bài học về chủ nghĩa bình quân chỉ có thể chia đều sự nghèo đói chứ không sao có phát triển luôn nhắc nhở chúng ta. Nhưng duy trì một mức sống quá thấp của 70% dân số sẽ làm triệt tiêu dần động lực cho phát triển. Cần phải dứt khoát chấm dứt tình trạng “Một hạt thóc, 40 khoản đóng góp”.

V.

Để kết thúc bài viết này, chúng tôi muốn dừng lại ở hình ảnh một đồng chí Bí thư Huyện uỷ trẻ, có bản lĩnh và trí tụê, vốn đã được học hành nghiêm chỉnh và được đào tạo có bài bản, từng giữ cương vị lãnh đạo ở một số lĩnh vực kinh tế trước khi về nhận chức bí thư huyện uỷ. Anh say sưa trình bày những ý tưởng táo bạo trong việc đưa nông nghiệp, nông thôn đi lên trên con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Kết luận anh rút ra là: nếu được chấp nhận những ý tưởng đó, chỉ trong vòng một nhiệm kỳ, huyện của anh sẽ có chuyển biến thật sự. Trong những ý tưởng táo bạo đó có vấn đề làm thế nào để xoá bỏ tình trạng manh mún, tản mạn của ruộng đất hiện nay. “Không tập trung được ruộng đất, không sao chuyển đổi được cơ cấu lao động, ngành nghề, áp dụng khoa học và kỹ thuật mới”. Trả lời cho câu hỏi làm sao tập trung ruộng đất, anh cười dí dỏm: “trước hết là phải thay đổi cách nghĩ quen thuộc về“người cày có ruộng”như là một cứu cánh của lập trường cách mạng. Có lẽ phải biết và dám “tập trung ruộng đất để đưa nông thôn vào sản xuất hiện đại ở trong đầu” đã, rồi từ đó mới thực thi được trên đồng ruộng. Mà chúng tôi ở huyện, nếu không được cái đầu của tỉnh gật thì chỉ mới đưa ra ý tưởng đã bị “phạt đền 11 mét” rồi, làm sao dám thực thi? Mà cái đầu của tỉnh thì lại phải chờ đợi từ cái đầu của trung ương có thuận không đã. Và cứ thế, sự chờ đợi kéo dài, và nông thôn cũng mòn mỏi kéo dài ì ạch theo bước chân trâu”.

Đương nhiên, tập trung ruộng đất để có điều kiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, vận dụng thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và các hoạt động sản xuất ở nông thôn, nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, thực hiện từng bước quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn không đơn giản chút nào. Mâu thuẫn giữa tập trung ruộng đất để phát triển sản xuất hàng hoá và sự làm ăn, kiếm sống của các hộ nông dân nghèo đang vất vả trên chính mảnh ruộng năng suất thấp của mình, cần phải có sự xem xét thoả đáng. Cũng đừng quên rằng, không phải không có tình huống là bản thân việc “dồn điền, đổi thửa” chưa thuyết phục được từng hộ nông dân thấy được nhu cầu của chính họ, thay vì sự hăng hái của không ít những cán bộ một số nơi nhắm vào động cơ việc “dồn điền, đổi thửa” sẽ tạo ra những lô đất lớn để “đấu thầu”, tăng thu cho ngân sách, đồng thời cũng tiện cho chuyện “quy hoạch” đất công nghiệp. Đấy là chưa nói những động cơ vụ lợi riêng tư mà người dân cảnh giác. Những nghịch lý của phát triển luôn là bài toán hóc búa.

Song để phát triển, cần phải tìm ra những lời giải thoả đáng. Lời giải đó cũng không thể tìm ở đâu khác từ những cái đầu dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về những tư tưởng và việc làm của mình trên chính mảnh đất dưới chân mình. Mảnh đất quê hương.

Những cán bộ cỡ bí thư huyện uỷ như vậy không nhiều song không là quá hiếm trên cả nước ta, từ khắp nông thôn đồng bằng Sông Hồng, suốt dọc duyên hải miền Trung, vượt lên vùng núi phía Bắc, quành về Tây Nguyên, cho đến ngút ngàn nông thôn đồng bằng Sông Cửu Long. Những cái đầu biết suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm, sẵn sàng vào cuộc, bứt lên. Hiện nay, những cái đầu dám nghĩ và dám làm, dám chịu trách nhiệm về việc làm của mình để xây dựng nông thôn mới ấy đang cần được cổ vũ, tạo điều kiện để phát huy. Đó chính là cái vốn vô giá của sự nghiệp “phát triển nông thôn trong giai đoạn hiện nay”. “Phải đặt người nông dân vào vị trí trung tâm của mọi cải cách ở khu vực nông thôn”, đó là kết luận nổi bật được nêu lên trong “Hội nghị phát triển nông thôn giai đoạn hiện nay” vừa rồi. Mà muốn thế, phải biết “khoan thư sức dân”, đó chính là “kế sâu rễ, bền gốc” được vận dụng một cách sáng tạo trong bối cảnh mới, khi mà “Bài học của sự kiện Thái Bình 1997” vẫn còn tươi rói.

Khoan thư sức dân, mà “dân”, trước hết là nông dân, đó chính là “kế sâu rễ, bền gốc” mà ông cha ta truyền dạy. Trong trường kỳ dựng nước và giữ nước, triều đại nào làm được điều đó thì thịnh, duy trì được quyền lực. Ngược lại, thì bị dân phế bỏ vì “chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”.

Mấy nghìn năm lịch sử nước nhà, đặc biệt là từ thế kỷ X, xây dựng và bảo vệ quốc gia độc lập, tự chủ và thống nhất, từng trang sử đều thấm đẫm bài học ấy.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: