Keep the memories

ĐI TÌM CH VIT C (BN D THO LN TH NHT ĐỂ XIN Ý KIN):

TRƯỚC KHI VÀO CUỘC KIẾM TÌM

Tác giả Đỗ Văn Xuyền (Khánh Hoài)Hội viên Hội nhà văn Việt Nam

Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Việt Trì

Phó ban chỉ đạo đề án “Nghiên cứu thấm định và phục hồi các di tích của cố đô Văn Lang”

Chủ nhiệm đề tài Chữ Việt cổ (trong nhóm nghiên cứu thời tiền sử thuộc trung tâm Văn hóa Người cao tuổi Việt Nam).

Từ một ngôi miếu nhỏ

Trên một quả đồi nhỏ ven đường, thôn Hương Lan – Nơi trung tâm của cố đô Văn Lang xưa – Có một tòa cổ miếu nằm ẩn mình dưới hai cây táu, gốc to đến bốn, năm người ôm không xuể, ước tính tuổi đời đã đến ngót nghìn năm. Mỗi độ hè về, trên mái ngói rêu phong và quanh những gốc cây lại phủ đầy những cánh hoa vàng, hoa bạc làm tăng thêm vẻ u tịch và cổ kính.

Người ta gọi đây là miếu Hai Cô. Ngôi miếu rộng chừng ngót chục mét vuông với bức tường thấp nứt nẻ và hai mái nhỏ lô xô những viên ngói vỡ tưởng chừng có thể sụp đổ và tan biến trước bão tố trong thời gian bất kể lúc nào, nếu không có hai cây cổ thụ vươn dài những cánh tay lực sỹ che chở.

Vào một mùa hè năm 1978, ban lãnh đạo Hợp tác xã nông nghiệp Động Lực quyết định cho chặt hai cây táu trước miếu về làm củi nung gạch. Được tin này các cụ già thôn Hương Lan đã kéo nhau ra miếu. Nhìn đám xã viên vác rìu, búa… chuẩn bị vào cuộc, cụ Nguyễn Hữu Bồng đã chạy đến, ôm chặt gốc cây hét lớn: “Không được phá nơi thờ thầy, cô giáo. Nếu chúng mày định chặt cây thì hãy chặt xác tao luôn thể”.

Đến lúc này, người ta mới biết đây không phải là miếu Hai Cô như người dân đã bao đời lầm tưởng, mà là miếu thờ thầy giáo Vũ Thê Lang – quê ở Mộ Trạch – Hải Dương (cùng vợ là cô Nguyễn Thị Thục quê ở Đông Ngàn – Kinh Bắc) đã lên đây dạy học từ thời Vua Hùng thứ 18. Thầy Cô đã chết vào cùng một giờ, ngày 2 tháng 2 năm Quý Dậu (288 trước Công nguyên) và được song táng trong lòng miếu. Ngôi mộ đã được nhân dân Hương Lan âm thầm bảo vệ suốt gần 23 thế kỷ. (1)

(1) Theo Ngọc Phả do Nguyễn Bính phụng soạn.

Trên bàn thờ còn tượng thầy cô và đặc biệt có hai cô gái với thị nữ theo hầu. Đó chính là Tiên Dung và Ngọc Hoa, hai cô học trò yêu của thầy họ Vũ mà người ta dùng hình ảnh để ngụy trang cho ngôi miếu cổ. Bức hoành phi nhỏ “Thiên Cổ Miếu” và đôi câu đối bằng gỗ mộc, dài chừng một mét đã nói lên tầm cỡ của di tích này:

“Hùng lĩnh trung chi thắng tích,

Nam thiên chính khí linh từ”

(Tạm dịch: “Thắng tích: Dấu xưa Hùng Lĩnh

Đền thiêng: Nguồn sáng trời Nam)

…Đến cả một hệ thống đền, miếu thờ thầy cô giáo thời trước Hán

Mở rộng phạm vi tìm kiếm, ta thấy ngoài miếu Thiên cổ thôn Hương Lan, còn rất nhiều nơi thờ thầy cô giáo ở khắp vùng miền núi, trung du, đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Nghệ Tĩnh.

Điều đáng tiếc là sau bao năm bị chiến tranh tàn phá và do nhận thức nông cạn một thời, nhiều di tích lịch sử đã không còn nữa. Rất may mắn là năm 1938, người Pháp đã có một cuộc tổng kiểm kê di tích các làng xã. Tài liệu hiện giờ còn lưu giữ ở kho AE Viện Hán Nôm, cộng với một số công trình của một số tác giả: “Thần linh đất Việt”, “Các nữ thần Việt Nam”, “Các nữ tướng của Hai Bà Trưng” cộng với các di tích còn sót lại… Ta đã có thề dựng lại tấm bản đồ vùng Giao Chỉ, Cửu Chân cũ với rất nhiều dấu tích của một nền giáo dục thời trước Hán, mở đầu từ thời Hùng Vương thứ sáu và kết thúc là thời Hai Bà Trưng với thầy Đỗ Năm Tế, cô Tạ Cẩn Nương, thầy Lê Đạo, sư bà chùa Phúc Khánh… Có tấm bản đồ ghi chú và qua danh sách các thầy cô giáo học sinh kèm theo ta cũng có thể hình dung được sự học hành của tổ tiên ta thời ấy.

Click vào hình để xem với kích thước lớn hơn

Như vậy phải chăng ngay từ thời đại Hùng Vương dân tộc ta đã từng có chữ viết riêng?

Đất nước ta nhỏ bé, lại phải trải qua hàng nghìn năm bị thống trị với chính sách đồng hóa nghiệt ngã của kẻ thù, bao nhiêu di sản quí báu của tổ tiên đã không còn nữa. Giờ đây nhiều nhà khoa học đang dành hết công sức vào các công cuộc kiếm tìm.
Riêng về chữ viết, trong suốt mấy nghìn năm đã có bao nhiêu người từng nhắc tới. Từ Hứa Thận, Trịnh Tiểu… đời Tống cho đến Vũ Quỳnh, Trương Vĩnh Ký, Vương Duy Trinh, Lê Huy Nghiệm… Và gần đây là Bùi Văn Nguyên, Lê Trọng Khánh, Hà Văn Tấn, Trần Ngọc Thêm… Và một số lượng không nhỏ các nhà nghiên cứu Việt Kiều.

Những dấu tích về ký tự của tổ tiên cũng ngày càng phát lộ nhiều hơn:

– Từ những nét khắc đơn sơ trên các bãi đá cổ ở Xín Mần (Hà Giang), Pá Màng (Sơn La), trên các đồ đồng Đông Sơn đến các hình vẽ tinh xảo đã mang tính khoa học, trên hàng trăm tảng đá ở Sa Pa mà chúng ta chưa giải mã được.

– Tiến lên một bước, ta còn tìm thấy dấu tích chữ khoa đẩu trên vách đá Đài Loan – một loại chữ tượng hình mà nhìn qua ta cũng đoán biết đây là tiền thân của chữ Hán. Các nhà khảo cổ Trung Quốc còn phát hiện nhiều di vật có khắc chữ, cách đây tới sáu, bảy nghìn năm, vào thời điểm mà các vùng phát hiện còn là khu vực cư trú của người Bách Việt. Ấn tượng về loại chữ khoa đẩu mạnh đến mức còn lưu dấu lại trong các tác phẩm văn học như Thủy Hử của Thi Nại Am, Lộc Đĩnh Ký của Kim Dung…

Thời điểm ghi lại sự xuất hiện của loại ký tự này đã cách xa tới bốn, năm nghìn năm trước… Ta biết rằng ký tự của một dân tộc bao giờ cũng phát triển từ đơn sơ lên hoàn chỉnh. Sự phát triển này mang tính kế thừa. Vì vậy, muốn nghiên cứu về chữ viết của tổ tiên, ta phải bắt đầu từ loại chữ viết xuất hiện gần ta nhất (song song với ngôn ngữ của giai đoạn đó). Thời điểm này ít nhất cũng vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên khi đất nước ta bắt đầu chìm vào đêm dài tăm tối của trên 1000 năm Bắc thuộc.

Với phương pháp nghiên cứu khoa học, có điều kiện tiếp xúc nhiều tài liệu và với cái nhìn khách quan, một số nhà khoa học thế giới đã giúp ta những tài liệu mới về vấn đề này.

Giáo sư Noel Barnard ở Đại học Quốc gia Úc đã khẳng định:

“Rõ ràng là thời trước Hán (thời của dòng Bách Việt) ở Trung Quốc đã tồn tại một hình thức chữ viết và ngôn ngữ văn học khá chuẩn xác”.

Trong cuốn “Lịch sử chữ viết thế giới” xuất bản trước năm 1945, nhà khoa học Tiệp Khắc Cesmir Loukotca viết:

“Phía nam đế quốc Trung Hoa có nhà nước An Nam, ngay từ thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên đã bị người Hán thống trị. Viên Thái thú Sĩ Nhiếp đã du nhập chữ Hán vào. Trước đó, người An Nam đã đọc bằng thứ chữ ghi âm riêng. Chữ đó không còn lại đến ngày nay”.

– Trước đó, năm 1887, Terrien de Couperie đã viết trong tạp chí Hoàng gia Anh:

“… Sĩ Nhiếp đã bắt người Việt học thứ chữ Hán tượng hình và cấm dùng thứ chữ tượng thanh của mình”.

Vào giai đoạn này, nhiều cuốn kinh Phật được dịch sang chữ Hán (như Tạp thí dụ kinh, Cựu tạp thí dụ kinh… và Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội – dịch năm 246). Tới nay, căn cứ vào nội dung và hình thức ngữ pháp của sách, Thiền sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát đã có một phát hiện quan trọng:

Cuốn Lục độ tập kinh không phải dịch từ chữ Phạn mà là chép nguyên văn một cuốn sách bằng chữ Việt.

Thiền sư khẳng định:

Ngay từ trước khi chữ Phạn từ Ấn Độ được truyền sang Đông Nam Á theo con đường Phật giáo thì ở Việt Nam đã có một hệ thống chữ viết hoàn chỉnh.

Không phải chỉ có loại chữ ghi âm, tiến bộ vượt bậc so với loại chữ Hán tượng hình. Trong khi, đến thế kỷ thứ 3, nhiều nơi ở Trung Quốc vẫn dùng thẻ tre ghi chép thì từ năm 43, Mã Viện đã báo cáo với vua Hán: Dân Giao chỉ đã làm được giấy mật hương, loại giấy thả xuống nước không nát. Sử sách còn ghi:

“Năm 284 lái buôn La Mã mua từ Giao Chỉ 30.000 tờ giấy mật hương biếu vua Tấn”.
Điều đó chứng tỏ kỹ nghệ làm giấy đã phát triển rất cao.

Giáo sư Jean Pierre Drege, Giám đốc viện Viễn Đông bác cổ ở Pháp, căn cứ vào sách “Nam phương thảo mộc trạng” của Kê Hàm năm 304 và sách “Thập di ký” của Vương Gia, thời gian sau đó đã đi đến kết luận:

“Ngay từ thế kỷ 2 trước Công nguyên, người Việt đã làm ra giấy và sau đó truyền vào Trung Hoa”.

Tất cả để chứng minh rằng: Ngay từ khi lập quốc, tổ tiên ta đã có chữ viết, từ những hình vẽ đơn sơ đến loại chữ khoa đẩu như hình con nòng nọc và tới khi bị kẻ thù triệt hạ thì cứ văn tự ấy đã đạt đến mức độ cao về mặt khoa học:

Thứ ký tự ghi âm có chữ cái ghép vần… có thể đứng ngang hàng với những loại chữ tiến bộ nhất của nhân loại.

Thứ tài sản vô giá ấy của tổ tiên liệu có còn không? Làm sao để chúng ta tìm lại được và tìm ở những nơi nào?

Đất nước ta nhỏ bé, ở bên cạnh một đế quốc to lớn, bị thống trị tới hàng nghìn năm mà vẫn giành lại được độc lập dân tộc, vẫn tồn tại với cả một nền văn hóa độc đáo. Trải qua bao thử thách khốc liệt, dân tộc ta vẫn giữ vững ý chí quyết chiến quyết thắng với lòng yêu nước mênh mông và tình yêu thương nhân loại cao cả. Bao nhiêu di tích, bao nhiêu di sản quý giá từ thời đại đồ đá, đồ đồng… Vẫn được dân ta bí mật cất giấu bảo vệ thì Chữ Việt cổ nhất định vẫn còn.

Chỉ có điều chúng ta không hy vọng tìm thấy ở các vùng biên giới phía Bắc, đồng bằng và đô thị. Cuộc tận thu trống đồng của Mã Viện năm 43, lệnh triệt hạ chữ viết cổ của Sĩ Nhiếp khi bắt dân ta học chữ Hán, một chỉ dụ của Minh Thành Tổ gửi Trương Phụ năm 1875, chắc những nơi đó không còn sót lại được gì.

Chỉ còn vùng Tây Bắc.

Một số nhà khoa học thế giới và trong nước đã khẳng định:

Vùng triền núi ven sông Đà là nơi cư trú của người Lạc Việt từ hàng vạn năm trước, sau đó là người Mường và người Thái. Do địa hình cao và địa thế hiểm trở, dân ở đây không phải chịu những cuộc thiên di do Đại hồng thủy và kẻ thù cũng không dễ dàng vượt qua sông Đà đầy ghềnh thác mà vào cái vùng rừng núi đầy hiểm trở này.

Chúng ta hướng việc tìm tòi về phía đó, chỉ có điều, phải dùng một phương pháp nghiên cứu khác (để không bị rơi vào những cái bẫy kiến thức người ta đã đặt sẵn – làm bao nhiêu người lệch hướng). Chúng ta tin tổ tiên còn lưu giữ lại nhiều. Chí có về với dân và dùng phương pháp nghiên cứu hiện đại nhất, ta mới hy vọng tìm ra sự thật.

Như vậy, ta có thể xác định:

– Đối tượng tìm của ta là Chữ Việt cổ, loại chữ ghi âm đã có chữ cái ghép vần.

– Địa điểm tìm, chủ yếu là vùng Tây bắc.

– Phương pháp của ta là: dựa vào dân tìm tư liệu trong dân. Thu thập, lựa chọn để tìm ra những bộ chữ có nhiều khả năng nhất. Tìm cách giải mã và sau đó dùng phương pháp hiện đại nhất để kiểm nghiệm.

(Còn tiếp)

Đỗ Văn Xuyền

ĐI TÌM CHỮ VIỆT CỔ (1):TRÊN ĐƯỜNG TÌM KIẾM
Dấu tích chữ Việt cổ dạng tượng thanh – Loại ký tự đã có chữ cái ghép vần – Tìm thấy ở vùng Giao Chỉ cửu chân. Đây là loại chữ, ta tìm thấy ở nhiều nơi, đặc biệt là vùng Tây Bắc, trong khoảng thời gian hàng nghìn năm và trên nhiều chất liệu: Đồ đá, đồ gốm, đồ đồng và cả trên mặt giấy.1. Trên trống đồng:

+ Sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi về trống đồng Đan Nê (Yên Định, Thanh Hóa):

+ “… Trên mặt có 9 vành hoa văn. Bốn bên tang trống có dây dọc và chữ VẠN, văn như chữ khoa đẩu, lâu ngày mòn mất không thể đọc được. Tương truyền Hùng Vương đúc trống này…”

+ Trong cuốn “Trống đồng vùng Đất Tổ”, Tiến sỹ Nguyễn Anh Tuấn giới thiệu 75 chiếc trống đồng đã tìm thấy ở Phú Thọ (tới năm 2000), trong đó có trống Lai Đồng và Ngọc Lập, trên mặt có khắc chữ nhưng đã bị cạo sứt hết.

+ Đặc biệt, tháng 3/1970, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội phát hiện một trống đồng để trong nhà dân ở Lũng Cú (Hà Giang), trên tang trống có hai hàng 8 chữ cái:

(u) (đ) (ng)

+ Năm 1889, tại cuộc đấu xảo quốc tế ở Pari có trưng bày một trống đồng do Phó sứ Moulíe lấy được tại nhà một quan lang ở Hòa Bình gần sông Đà.

Trên tang trống có khắc hình những người đang cầm đọc văn bản. Hình ảnh này nhắc ta nhớ lại báo cáo của Mã Viện gửi lên Hán Quang Đế năm 43:

“Giao Chỉ đã biết làm giấy mật hương, loại giấy trắng thả xuống nước không nát.
… Luật Việt khác luật Hán trên 10 điều…”

2. Trên đồ gốm:

Năm 1923, bà Colani đào được ở chân núi Lam Gan Hòa Bình nhiều hiện vật đồ đá cách đây khoảng 8000 năm, đã gây chấn động dư luận quốc tế. Trong số đó có hai chiếc đĩa gốm có khắc chữ, qua hình dạng có người đoán là chữ Sỹ (士)
Và chữ Thượng (上) của Trung Quốc. Nay ta đã giải mã được. Đó là chữ SÔ tương tự chữ X và chữ Ố tương tự chữ O của quốc ngữ. Ta có thể gặp hai chữ này trong rất nhiều tại liệu Việt cổ đã tìm được.

3. Trên chiếc rìu đá do Đỗ Quý Bào tìm thấy ở đồi Giàm Việt Trì. (n)

4. Trên tảng đá ở Hầu Thào 1 ở Sa Pa (sau khi cạo sạch lớp rêu phủ)

(S,X) (r) (c)

5. Trên rìu đồng Bắc Ninh

(ă) (t) (ng)

6. Trong hiện vật đồng (tấm che ngực) của Viện bảo tàng Lịch sử

(n) (u) (ng)

7. Trong bài ca Hỏa tự của Vương Duy Trinh (1903)

(n) (cu = qu) (m)

8. Trong trang sách Mường Thanh Hóa do viện sỹ Trần Ngọc Thêm giới thiệu trong “Cơ sở Văn hóa Việt Nam” 1999.

(h) (n) (cu = qu)

9. Trong một số vùng ở Tây Bắc (theo giáo sư Lê Trọng Khánh):

– Vùng Mường La: (B) (t)

– Vùng Mường Lay: (c) (ph)

– Vùng Mộc Châu: (h)

– Vùng Phong Thổ: (i, y) (l)

10. Trong bộ chữ Thái thổ tư do Thượng thư Phạm Thận Duật sưu tầm trên Tây Bắc năm 1855 – 1856

– Ở Lai Châu, Luân Châu, Quỳnh Nhai:

(O) (m) (uô, uâ)

– Ở Tuần Giáo, Thuận Châu:

(B) (D)

– Ở Châu Phù Yên:

(ch) (a)

11. Ở rất nhiều văn bản tìm thấy hiện để ở Bảo tàng và Thư viện Sơn La:

(O) (th) (Ô)

12. Đặc biệt, ta còn tìm được nguyên vẹn CẤU TRÚC CỦA CHỮ VIỆT CỔ đã khoác VỎ LA TINH trong các tác phẩm đầu tiên của chữ Quốc ngữ.

– Trong “Thư báo cáo” của Gaspa Loui viết từ Ma Cao (1621): Ontrum, Nouoeman

– Trong hồi ký của Cirs – tô – phô – rô Bori (1631): Quanghia, Chiuua, Omgne

– Trong sách giảng 8 ngày của A. de Rhodes: Tỏ tưầng, ∫óũ, ∫aũ le.

– Trong từ điển Việt Bồ La của A. de Rhodes (1651): Con ruầi, tổ aõ, Sáp aõ, Saũ le

– Trong từ điển của Pisneau de behaine (1772) và từ điển của Taberd (1830): Duiên, Khuia

– Trong từ điển của Aubaret (1861): Huình, huinh, Koặp

13. Trong “Sách sổ sang” của linh mục filip Bỉnh viết ở thủ đô Lisbon – Bồ Đào Nha (từ 1790 – 1820), do viết tay nên ngoài những chữ quốc ngữ có cấu trúc của chữ Việt cổ khoác vỏ La Tinh, ta còn gặp nguyên dạng chữ Việt cổ trong suốt hơn 600 trang sách.

– Khaóc laóc, Vỏng, Cụ Cuiền, Phu xưấng phụ tùi.

Dà Tra ∫a Excomunha

Riêng trang 147 có 22 dòng thì có tới 12 từ có cấu trúc Việt cổ vỏ La Tinh và 11 từ còn lưu lại nguyên dạng chữ Việt cổ (11 từ này, mỗi từ có 3 chữ cái thì hai chữ nguyên dạng chữ Việt cổ: A (a = o) đọc là Ô và (ng) đọc là ngộ.

Có thể nói: Trong khắp vùng Giao Chỉ, Cửu Chân cũ, suốt mấy nghìn năm, nhân dân ta đã tìm mọi cách lưu giữ lại nguyên vẹn những chữ Việt cổ trong lần cải tiến cuối cùng của chữ Khoa đẩu: Từ những ký hiệu, những chữ tượng hình… chuyển sang chữ tượng thanh: Loại có chữ cái ghép vần.

Loại chữ này tìm thấy ở một vùng không gian rộng lớn cách nhau hàng nghìn cây số, với khoảng thời gian chênh nhau hàng nghìn năm nhưng có một đặc điểm chung về hình dạng chữ cái, về cấu trúc của các từ cơ bản là thống nhất. Điều đó chứng tỏ, chúng có chung một nguồn gốc và sẽ rất thuận lợi cho chúng ta khi so sánh, tìm hiểu, nhưng cũng gây cho ta không ít khó khăn trong quá trình nghiên cứu vì một số lý do:

1. Sự thay đổi con chữ đối với các dân tộc anh em:

Do tính chất khoa học và tiện lợi, một số dân tộc anh em đã sử dụng loại ký tự này để ghi ngôn ngữ của dân tộc mình. Nhưng do sự khác nhau đôi chút về ngôn ngữ, bộ ký tự Việt cổ còn thiếu một số chữ cái. Trong quá trình sử dụng họ đã có sự bổ sung, cải tiến cho phù hợp với dân tộc mình.

Ví dụ: Bộ ký tự này thiếu chữ P đứng đầu từ, trong khi người Thái lại cần rất nhiều phụ âm P (Pí noọng, Pa ử…). Họ đã dùng chữ P khóa đuôi của Việt cổ thay cho chữ P đứng đầu còn thiếu:

Ví dụ:

Chữ PHÁP (PH – A – P)

Chữ PAP (… – A – P)

Không viết được vì Việt cổ không có P đứng đầu từ.

Người Thái đã viết:

Ví dụ: Tam Tan

Để khỏi nhầm lẫn, người Thái đã cải tiến chữ thành 2 chữ

(là N khóa đuôi) (là M khóa đuôi)

2. Sự thay đổi hình dạng các chữ một cách tùy tiện:

Do không có điều kiện làm bản khắc gỗ và máy in, việc viết bằng tay đã xảy ra sự tự do tùy tiện đối với mỗi cá nhân ở những vùng khác nhau. Vì vậy cũng là chữ Việt cổ nhưng có chữ ta chưa đọc được vì đã biến dạng.

Ví dụ:

Chữ O Ở Tuần Giáo viết là

Ở Quỳnh Nhai viết là

Ở Phù Yên viết là

Ở Sơn La viết là

Chữ X Ở Lai Châu viết là

Ở Phù Yên viết là

3. Tình trạng phiên âm sai còn xảy ra không phải ít:

Gây khó khăn cho giai đoạn đầu khi cần giải mã bộ ký tự này – đặc biệt ngay trong bộ chữ Thái Thổ Tự của Thượng thư Phạm Thận Duật là bộ chữ chúng ta sẽ dựa vào là chính để nghiên cứu. Ví dụ:

+ Ở trang 201 dòng Chữ (thi) Lại phiên âm là Bố

+ Ở trang 201 dòng Chữ (nhu) Lại phiên âm là Khổng

+ Ở trang 2 Chữ (Ác) Lại phiên âm là Á

Hầu hết các trang sách giới thiệu 1500 từ “chữ Thái thổ tự” trong bộ tài liệu ta đều gặp phải các sai sót này.

(Còn tiếp)

Đỗ Văn Xuyền

ĐI TÌM CHỮ VIỆT CỔ (2): LỰA CHỌN
Cuộc khai quật của bà Colani – một học giả Pháp ở Viễn Đông Bác cổ năm 1923, với việc phát hiện ra nền văn hóa Hòa Bình đã làm chấn động dư luận quốc tế. Năm 1932, Hội nghị bàn về thời tiền sử ở Viễn Đông, họp tại Hà Nội đã khẳng định “Việt Nam là cái nôi văn minh của nhân loại”. Sau này, qua quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học nước ngoài như: Trương Quang Trực (Trung Quốc), Vavilov (Nga), Solheim (Mỹ)… bổ sung thêm, đại ý: “Nền văn minh của Việt Nam, trước Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ tới cả nghìn năm”.Như vậy, chúng ta đã trải qua một thời kỳ văn minh rực rỡ. Riêng về chữ viết chúng ta đã tìm thấy dấu tích các thầy cô thời trước Hán. Các học giả trong và ngoài nước đã xác nhận: “Trước khi chữ Hán xâm nhập, Việt Nam đã từng có chữ viết riêng”. Các nhà nghiên cứu Anh, Tiệp còn khẳng định: Đó là loại chữ tượng thanh (Ký tự ghi âm, có chữ cái ghép vần).

Mặc dầu hàng nghìn năm bị đô hộ, bị bao cuộc chiến tranh tàn phá, trên vùng đất Lạc Việt cổ xưa vẫn còn lưu lại dấu vết của các loại “Ký tự” Tổ tiên đã để lại như: Hình vẽ trên các bãi đá cổ Sa Pa, Xín Mần, Pá Màng… Dấu vết chữ khoa đẩu trên vách đá Đài Loan (với dạng tượng hình như chữ Hán sơ khai). Và một số nơi trên lục địa Trung Hoa mà các tác phẩm: Thủy Hử (Thi Nại Am), Lộc Đỉnh Ký (Kim Dung)… còn miêu tả lại.

Nhưng tìm lại các ký tự buổi đầu này quả là một điều hết sức khó khăn. Chúng ta chỉ có thể tập trung vào chữ viết cuối cùng: Chữ Việt cổ tượng thanh.

Đây là loại ký tự có số lượng hết sức phong phú và chắc chắn là hình thức cuối cùng của loại chữ này – từ hình vẽ sơ khai, qua loại chữ tượng hình đơn giản.

Do số lượng hết sức phong phú và có nhiều sự khác biệt về hình dạng, ở nhiều vùng khác nhau, nên ta cần chọn lấy một bộ tiêu biểu nhất làm cơ sở để tập trung nghiên cứu.

Bộ “chữ Thái thổ tự” của Thượng thư Phạm Thận Duật sưu tầm được trong thời gian làm Tri châu Điện Biên vào những năm 1855 – 1856 có thể có đủ những điều kiện ấy. Sở dĩ ta chọn bộ này để nghiên cứu vì 3 lý do.

1. Đây là một bộ tư liệu phong phú nhất, tác giả đã bỏ vào nhiều công sức trong quá trình thu thập.

Về hình dạng: Chữ cái của bộ ký tự này giống với hầu hết chữ cái ở các vùng khác.

Nếu lấy năm 1855 làm mốc, ngược thời gian về trước, ta thấy thứ chữ này có trong Sách Sổ Sang của Filip Bỉnh viết năm 1800 ở Bồ Đào Nha, trong cấu trúc của các chữ Quốc ngữ buổi đầu từ những năm 1621. Ngược lên nữa, ta thấy chữ này xuất hiện trên rìu đồng Bắc Ninh, trên trống đồng Lũng Cú, trên các đĩa gốm của nền văn hóa Hòa Bình mà bà Colani đào được ở chân núi Lam Gan năm 1923…

Xuôi thời gian về hiện tại, ta gặp loại chữ này trong Bài ca hỏa tự của Vương Duy Trinh (1903), trong các công trình sưu tầm chữ Việt cổ của giáo sư Lê Trọng Khánh, Giáo sư Hà Văn Tấn, trong sách Mường Thanh Hóa của Viện sỹ Trần Ngọc Thêm (1999) và trong hàng trăm cuốn sách của Sơn La sưu tầm được trong hàng chục năm gần đây.

2. Lý do thứ hai ta chọn bộ chữ này là niềm tin vào cuộc đời tác giả. Phạm Thận Duật quê ở làng Yên Mô – huyện Yên Mô – Ninh Bình, có lòng yêu nước và tinh thần say mê, nghiên cứu. Với kiến thức uyên bác, chỉ trong hai năm ở Tây Bắc ông đã có nhiều công trình có giá trị. Về cuối đời, ông đã từ bỏ những chức vị cao của triều đình (Thượng thư bộ Hình, Tổng tài Quốc Tử Giám, Phó tổng quản Quốc sử quán) để theo vua Hàm Nghi chống Pháp. Bị đầy ra Côn Đảo, sau đó sang Taihiti. Trên đường lưu đầy, ông đã chết vì bị ốm đau và tra tấn. Xác ông bị vứt xuống eo biển Ma – Lắc – Ca. Đến hai năm sau, gia đình mới được tin.

3. Đây là bộ tài liệu phong phú nhưng cũng đầy rẫy những sự vô lý: Các kiến thức đều sai: A, tác giả chú thích là B, B tác giả lại nói là C. Cho nên, mặc dầu đã tồn tại gần 2 thế kỷ, bộ tài liệu không được ai chú ý.

Kiểu ngụy trang và khóa mã này, ta thường gặp khi Tổ tiên muốn giấu đi những di tích, những di sản cần bảo vệ (Kiểu như Miếu Thiên Cổ, miếu thờ đại tướng Thục Nương và nhiều di tích vùng Hà Đông, Sơn Tây cũ…)

Phân tích

Phân tích “chữ Thái thổ Tự”

I. Tác giả ghi rõ: Đây là chữ Thái “thổ tự”, tức là chữ địa phương của riêng người Thái.

Bộ chữ có từ 32 đến 36 chữ cái và 11 nét phụ bốn bên. “Tuy nhiên ít khác nhau, song nếu dùng 3 thể chữ cái ấy đảo lên, lộn xuống, ghép lại với nhau thành từ thì đều có thể thông với văn tự Trung Châu”.

Điều này vô lí vì:

Lúc này ở Trung Châu, về phương diện công khai chỉ có hai loại văn tự:

1. Chữ Hán (hoặc chữ Nôm)

2. Chữ Quốc ngữ sơ khai chưa được dùng phổ biến, chỉ hạn chế trong phạm vi Tôn giáo.

Người Trung Châu không biết tiếng Thái và chữ Thái. Vì vậy không thể đem loại chữ “Thổ tự” để giao dịch được (1).

(1) Nhưng chi tiết này lại làm xuất hiện một khả năng cần lưu ý: Có thể ở Trung Châu lúc ấy, có những người sử dụng được loại văn tự này (Ví dụ như Tổng đốc Vương Duy Trinh, Án sát Lê Huy Nghiệm và nhiều người khác).

Và như vậy, cần “xem lại” ý kiến của Thượng thư Phạm Thận Duật. Đây có thể không phải là chữ Thái thổ tự mà chỉ có cái vỏ ngụy trang cho chữ Việt Cổ của tổ tiên mà chính Phạm Thận Duật cũng chưa kịp nhận ra.

II. Bảng chữ cái:

Như phần trên đã giới thiệu, tác giả giới thiệu ba bảng chữ cái sưu tầm được ở 3 địa phương khác nhau: Lai Châu, Sơn La, Phù Yên.

Ví dụ: Ở Sơn La, Tuần Giáo, Thuận Châu…

1. Có 17 thể chữ cái thêm vần bằng, có thể đây là những con chữ phụ âm (như các chữ b, l, m, c, kh… ở Quốc Ngữ) nhưng chỉ để ghép với các từ thuộc thanh bằng.

2. Có 16 chữ cái theo vần trắc (có thể là những con chữ phụ âm chỉ để ghép với các từ thuộc thanh trắc).

3. 11 nét phụ cho các từ vầng bằng (Nguyên văn chữ Hán là “mai” âm Thái là “mây” có nghĩa như dấu (accents). Tác giả gọi là các nét phụ bốn bên (tứ bàng phụ họa).

Nhận xét

Tất cả 3 chú thích này đều hoàn toàn sai. Bộ chữ này không có dấu. Vì vậy cũng không thể có chữ cái theo vần trắc.

Trong số 44 chữ cái giới thiệu chì có 2 loại:

1. Nguyên âm (voyelles): Đó là chữ mà tác giả nhầm là dấu (accents)
Có 11 chữ:

Mai công: Ô

Mai cô: UÔ, UÂ

Mai kê: E

Mai Cư: Ư

Mai Ca: A

Mai cơ: IÊ

Mai cơ: I

Mai căng: Ă

Mai câm: Â (thiếu trong tư liệu chính)

Mai cầm: U

Riêng Mai khuông (chưa thấy sử dụng)

Để có thể đọc, viết được mọi loại ký tự này, còn cần bổ sung thêm một số nguyên âm.
đọc là Ơ hoặc Â

đọc là Ơ hoặc Ê

đọc là ƯƠ

Nguyên âm khóa đuôi, đọc là O hoặc U

Nguyên âm khóa đuôi, đọc là I hoặc Y

Click vào hình để xem với kích thước lớn hơn

(Còn tiếp)

ĐI TÌM CHỮ VIỆT CỔ (3): GIẢI MÃ
Thử phân tích các nguyên âm của bộ ký tự nàyA/ Cách sắp xếp vị trí

Khác hẳn văn tự các nước khác, nguyên âm của bộ ký tự này, theo giới thiệu được xếp ở cả 4 phía của phụ âm (tứ bảng phụ họa). Nhưng, nếu kết hợp với việc nghiên cứu các tài liệu khác, ta thấy có tới 6 cách sắp xếp.

Ghi chú: Trong bộ tài liệu của Thượng thư Phạm Văn Duật chỉ nêu có 4 trường hợp sắp xếp nguyên âm (mà ông nhầm là các dấu). Nghiên cứu các tài liệu khác ta thấy có tới 6 trường hợp. Đặc biệt trường hợp thứ 6: Chữ V (Mai Căng).

– Nếu xếp phía trên sau phụ âm, có giá trị như chữ Ă

– Nếu xếp trước phụ âm (thêm 1 chữ V phía trên) có giá trị như Ơ và Â.

– Nếu xếp trước phụ âm có giá trị như chữ ƯƠ và phải thêm 1 âm vị nữa mới tạo nên từ như các trường hợp trên.

B/ Một số đặc điểm của nguyên âm

(Còn tiếp)

ĐI TÌM CHỮ VIỆT CỔ (4)
Thử phân tích các phụ âm của bộ ký tự nàyKhác hẳn văn tự một số nước, bộ ký tự này có một số lượng phụ âm tương đối nhiều: 33

(Trong khi chữ quốc nhữ: 23; Chữ Pháp: 17; Chữ Anh: 24; Chữ Trung Quốc: 21; Chữ Ấn Độ: 35; Chữ Lào: 25…)

Sở dĩ như vậy vì:

1. Chữ Việt cổ không có dấu:

Ở giai đoạn khởi nguồn, tiếng Việt chỉ có hao thanh: Thanh cao và thanh trầm. Để phân biệt hai thanh này, trong cùng một chữ, người ta phải dùng hai loại phụ âm khác nhau.

Ví dụ: Muốn viết chữ : HA

Và chữ : HÀ

Chữ HA: Dùng phụ âm (hô = H) và nguyên âm (Mai ca = A)
Chữ HÀ: (thanh trầm) đáng lẽ cũng viết như trên và thêm dấu huyền (\). Nhưng vì không có dấu, nên phải thay bằng một phụ âm khác (hố = H)

= HA

= HÀ

Điều này, được thể hiện rất rõ trong các tài liệu ta sưu tầm được ở nhiều nơi và đặc biệt ở Tây Bắc, trong mấy trăm năm qua.

2. Phân biệt chữ cái đứng đầu từ và các chữ cái khóa đuôi:

Bộ chữ cái này khi bắt đầu sáng tạo, chưa được khoa học.

Ví dụ: Chữ TIẾT, chữ NHANH, chữ NAN…

Ở Quốc ngữ, chỉ cần một chữ T, một chữ NH, một chữ N chung cho cả phụ âm mở đầu và khoá đuôi, nhưng với Việt cổ lại phải dùng 2 phụ âm khác nhau.

Thể hiện trong các tài liệu đã sưu tầm được:

Như vậy có tới 3 loại phụ âm: phụ âm đi với thanh cao, phụ âm thành trâm và phụ âm khóa đuôi như bảng phân tích sau đây:

3. So với chữ Quốc ngữ, bộ chữ này đơn giản hơn trong cách phát âm:

a) Không phân biệt: R, D, GI.
Chỉ dùng chung một chữ (hô du), tương tự D.

b) Không phân biệt S và X.
Chỉ dùng chung một chữ (sô), tương tự X.

c) Không có TR.
Chì dùng chữ (tô), tương tự T.
Hoặc chữ (chu), tương tự CH.

d) Không phân biệt C, K, QU.
Chì dùng chung một phụ âm C.

đ) thiếu hẳn phụ âm P đứng trước.

chỉ có P khóa đuôi.

e) Một số phụ âm khóa đuôi dùng chung
C và CH dùng chung

N và M dùng chung

NH và NG dùng chung

Nguyên âm: O và U dùng chung

I và Y dùng chung

Thể hiện trong các tài liệu sưu tầm được:

(Còn tiếp)

ĐI TÌM CHỮ VIỆT CỔ (5):
LẦN THEO DẤU VẾT ĐỂ TÌM RA BỘ KÝ TỰ NÀY
Chúng ta đã có trong tay một bộ ký tự đặc biệt. Bộ ký tự này nằm rải rác trong một vùng rộng lớn ở Giao Chỉ, Cửu Chân và đặc biệt trong khu vực cư trú tương đối ổn định hàng vạn năm của người Lạc Việt.Bộ ký tự này còn lưu dấu trên nhiều chất liệu: Đồ đá, đồ đồng, đồ gốm, trên lá cây, trên giấy.

Những dấu vết đó tồn tại trong suốt mấy nghìn năm, phù hợp với những gì chúng ta đã biết về lịch sử dân tộc.

Chúng ta đã chứng minh được: Bộ ký tự này khác hẳn với văn tự các nước xung quanh và cũng không phải là của riêng các dân tộc anh em.

Nhưng liệu đây có phải là thứ chữ riêng của Tổ tiên chúng ta, thứ chữ từ thời đại Hùng Vương mà các nhà khoa học thế giới và trong nước đã từng nhắc tới trong suốt hàng nghìn năm qua?

Điều này không thể suy luận, không thể ngụy biện mà phải căn cứ vào những luận cứ khoa học, căn cứ vào thự tiễn để chứng minh.

Ta lần lượt xét từng đặc điểm.

A. Bộ ký tự này không có dấu

Ngôn ngữ Việt hiện tại có tới 6 thanh. Nhưng ở đây, ta đang nghiên cứu chữ Việt cổ, tức là thứ ký hiệu viết ra để ghi ngôn ngữ của người… Việt cổ cách đây hàng nghìn năm trước.

+ Theo một công trình nghiên cứu của A.G Haudricourt (“Về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt” – 1954) thì:

– Đầu công nguyên: Tiếng Việt không có thanh

– Thế kỷ thứ 6: Có 3 thanh

– Thế kỷ thứ 12: Có 6 thanh

+ Ở thị xã Tây Ninh hiện nay, có tộc người Tà Mun từ Tây Nguyên chuyển đến. Họ tự nhận là người Việt gốc. Già, trẻ, lớn, bé đều nói bằng thứ tiếng Việt không có dấu.

+ Người Thượng Hải (gốc Ngô Việt) cho tới giờ đây vẫn chỉ nói có hai thanh: Thanh cao và thanh trầm.

+ Trên Trường Sơn, vùng Quảng Bình có tộc người Chứt, thường gọi là Khả Lá Vàng. Qua công trình nghiên cứu của A. Fraisse năm 1949, những người này nhuộm răng đen, xăm trán. Họ ăn thịt gà nướng, canh cua đồng nấu măng. Phụ nữ đẻ biết “nằm bếp” như người Kinh. Họ tự xưng là người Alak (người Lạc) và nói bằng thứ ngôn ngữ không có dấu: A cho (chó), A ka (cá), kuan gôi (Con gái), Mơ (mẹ)…

– A. de Rhodes lần đầu đến Việt Nam vào đầu thế kỷ 17 nhận xét “Người Việt Nam, nhất là phụ nữ, nói cứ líu ríu như tiếng chim”.

– Hiện nay, ở Hà Đông, Sơn Tây, Phú Thọ, Bắc Ninh… có những làng cổ, người dân nói bằng giọng rất nhẹ, gần như không có dấu, đặc biệt là phụ nữ.

Như vậy, phải chăng loại ký tự này dùng để ghi ngôn ngữ của người Việt cổ thời trước công nguyên, thời kỳ mà Haudricourt cho là tiếng Việt còn chưa có thanh (nên không cần có dấu).

Bị loại bỏ, bị triệt hạ, thứ ký tự đó đã phải tồn tại một cách lén lút suốt mấy nghìn năm cho đến khi chúng ta tìm lại được. Vì vậy không có điều kiện cải tiến cho phù hợp với sự phát triển của ngôn ngữ nói chung. Chúng ta chỉ còn tìm thấy dấu vết thứ ngôn ngữ đó trong các công trình nghiên cứu, trong các tộc người Việt gốc bị “truy sát” từ những ngày đầu bị thống trị, phải trốn tránh, chui lủi từ đời này sang đời khác, trong rừng sâu, núi thẳm hàng nghìn năm qua, không có điều kiện giao dịch với những người Việt văn minh đã có sự phát triển mạnh về ngôn ngữ ở vùng đồng bằng, đô thị.

Loại ký tự không có thanh này vẫn còn lưu lại dấu vết ngay trong ngôn ngữ của người Việt hiện đại.

Ví dụ:

a. Chữ bâu Là bám vào

Nếu là thanh trầm, ta dùng phụ âm (bô)

Bầu. Âm này thành cố định

Nhưng nếu dùng phụ âm cao (bộ), người ta có thể thay đổi ngữ điệu, tùy từng vùng mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa

Bâu Bậu Bấu

b. Chữ Thâm chỉ màu sắc.

Nếu là thanh trầm ta dùng phụ âm

: Thầm: Âm này thành cố định

Nhưng nếu dùng phụ âm cao tuỳ từng vùng có thể thay đổi ngữ điệu

Thâm Thẫm Thậm

B. Đối chiếu với các luận cứ khoa học:

Căn cứ theo định nghĩa của “Đại từ điển Bách khoa” Liên Xô.

Định nghĩa 1: “Chữ viết là những ký hiệu viết ra để ghi ngôn ngữ, không thể tồn tại độc lập ngoài ngôn ngữ”.

Chúng ta đang nghiên cứu CHỮ VIỆT CỔ, như vậy, chúng ta phải chứng minh được: Loại ký tự này có thể hoặc đúng hơn – bắt buộc – phải ghi được đầy đủ tiếng nói của người Việt nhưng là “Việt cổ”.

Sử dụng 11 nguyên âm và 33 (đến phụ âm) với cách sắp xếp vị trí và theo những đặc điểm đã nêu ở trên, chúng ta hoàn toàn có thể ghi được đầy đủ tiếng nói của người Việt, nhưng không phải tiếng nói hiện đại mà tiếng nói của người Việt cổ. Tiếng nói này hiện nay vẫn còn tồn tại một ít, đối với một số người già ít học ở một số vùng quê cổ.

Ví dụ: “Một trăm ống Pê – ni – xi – lin”.

Ở vùng ngoại ô Hà Nội, các cụ già nói: “Một chăm ống Bê xi lin”.

Bởi vì, chữ Việt cổ trong bộ ký tự này thiếu hẳn chữ P, chữ TR, chỉ có chữ B, chữ T hoặc chữ CH.

Tài liệu minh hoạ:

Chúng ta thử chuyển một số tác phẩm văn thơ, nhạc Tiếng Việt từ chữ Quốc ngữ sang chữ Việt cổ.

Việc chuyển đổi này thực hiện được thuận lợi và đạt yêu cầu 100%. Chỉ có điều, chúng ta vẫn phải dùng một ít chữ cáu Việt cổ thay cho những chữ cái mnới chỉ xuất hiện sau khi có chữ Quốc ngữ: S, TR, GI.

II. Định nghĩa 2:

“Một hệ thống chữ viết là hợp lý nếu nó thích ứng với đặc điểm của ngôn ngữ”.

Có nghĩa là: Ngôn ngữ Việt có những đặc điểm gì thì chữ viết phải tuân theo những đặc điểm đó.

Ví dụ 1: Người Việt (xưa và nay) hay nói lẫn giữa â và ơ: Nhơn nghĩa, nhân nghĩa, chân lý, chơn lý, quả gấc, quả gớc, vâng dạ, vơng dạ…

Nếu thứ ký tự ta nghiên cứu đúng là chữ Việt cổ thì chỉ cần một nguyên âm cho cả 2 cách phát âm đó.

(Xin xem phần B: Một số đặc điểm của nguyên âm).

Thí dụ 2:

Người Việt cho đến giờ đây vẫn phát âm không phân biệt giữa D và Gi, S và X: Dòng xông, dan dối, xản xuất…

Nếu thứ ký tự ta nghiên cứu đúng là chữ Việt cổ thì bộ chữ cái không cần có sự phân biệt hai loại phụ âm đó.

(Xem: Một số đặc điểm của phụ âm phần 3).

Như vậy, so với định nghĩa chung, ta thấy bộ ký tự ta nghiên cứu có nhiều khả năng là Chữ Việt cổ vì đã đáp ứng được một số tiêu chuẩn quy định.

Nhưng, trên thế giới mỗi loại ký tự đầu có nguồn gốc phát sinh và nguồn gốc đó đã để lại dấu ấn sâu sắc ngay trong từng câu chữ. Các thứ chữ Phạn, Pali của một số dân tộc anh em vẫn mang dấu ấn chung của dòng SanKrit. Một số ký tự Châu Âu vẫn mang nguồn gốc La Tinh.

C. Còn chữ Việt cổ?

Loại ký tự này ra đời (theo nghiên cứu của thiền sư Lê Mạnh Thát) không chịu ảnh hưởng của bất kỳ loại văn tự nào. Vậy sự sáng tạo ra văn tự này có mang dấu ấn của tổ tiên – những người đã làm ra nó?

Chúng ta biết: Dân ta vốn hết sức tôn trọng đạo lý, trong hoàn cảnh nào vẫn chú ý đến tôn ti, trật tự. Chỉ cần nhìn vào cách sắp xếp vị trí các nguyên âm (loại chữ cái, quyết định cho ý nghĩa của từ) với từ nào cần sắp xếp nguyên âm ở trên, từ nào cần sắp xếp nguyên âm ở trước, từ nào nguyên âm phía sau, ta đã thấy được sự nghiêm khắc của các cụ.

Sự “lộn xộn” này đã gây nên nhiều khó khăn khi ta bắt đầu học loại chữ này, nhưng nếu đã là người Việt, mang đạo lý Việt thì vấn đề cũng sẽ trở nên đơn giản. Tất nhiên, sau này, khi có điều kiện, lập tức con cháu sẽ cải tiến ngay. Dù sao, lối sắp xếp rắc rối này cũng đã để lại những dấu tích giúp chúng ta tìm ra nguồn gốc, tìm ra chủ nhân đích thực của loại ký tự đã hàng nghìn năm lưu lạc.

(Xin xem: Thử phân tích các nguyên âm – mục A: Cách sắp xếp vị trí)

D. Giải quyết một số “nghi án” trong lịch sử:

Cũng do đã trải qua hàng nghìn năm lưu lạc nên bộ ký tự này đã để lại nhiều nghi án, đòi hỏi ta phải giải quyết:

+ Năm 246, nhà sư Khương Tăng Hội ở Giao Chỉ đã dịch cuốn Lục độ tập kinh sang chữ Hán và đem sang Giang đông hoằng pháp. Sau gần 18 thế kỷ, tới nay, thiền sư Lê Mạnh Thát căn cứ vào nội dung của cuốn sách đã phát hiện ra: Cuốn Lục độ tập kinh đã được nhà sư Khương tăng Hội chuyển từ một nguyên bản CHỮ VIỆT sang chữ Hán (chứ không phải từ chữ Phạn).

+ Năm 39, trước khi khởi nghĩa, Bà Trưng đã phát hịch kêu gọi đi khắp nơi, các tướng tá của hai bà đều đọc hịch này trước khi kéo quân về Hát Môn tụ nghĩa. Hịch này không thể viết bằng chữ Hán vì tới gần 150 năm sau (năm 187) Sĩ Nhiếp mới đưa chữ Hán vào Việt Nam.

+ Trong cuốn Thuyết Uyển của Lưu Hướng (thế kỷ 1 trước CN) có ghi lại một bài hát: Bài Việt ca của một người Việt đã hát khi chèo đò đưa vua Sở qua sông vào thế kỷ 5 trước CN. Bài Việt ca còn được lưu giữ lại nhưng nhà nghiên cứu Quách Mạt Nhược nói: “Đây là của dân tộc Choang vì người Việt làm gì có chữ”.

Với bộ ký tự có được, chúng ta hoàn toàn có thể chuyển bài Việt ca, bài hịch của Hai Bà Trưng và cả cuốn Lục độ tập kinh cũng như một số cuốn kinh khác vào thời đó sang chữ Việt cổ một cách dễ dàng.

E. Dùng chiếc chìa khóa đã giải mã chữ Việt cổ để tìm đọc một sô “cổ tư” hiện chưa đọc được.

Như phần trên đã phân tích, bộ ký tự đã bị thất lạc quá lâu, đã một phần bị biến dạng và được một số dân tộc anh em cải tiến đi để sử dụng riêng.

Dù vậy, tất cả các “loại chữ” đó vẫn giữ được hình dạng cơ bản và vẫn theo những quy tắc, cấu trúc ban đầu của chữ Việt cổ.

Do đó, khi đã nắm vững chữ Việt cổ ta có thể dò đọc được những dấu tích loại chữ này, hiện mới sưu tầm được ở vùng Tây Bắc.

Theo hai tiêu chuẩn chung đã được Quốc tế quy định về một ký tự. Thêm vào đó chúng ta còn giải quyết được 3 vấn đề riêng của chữ Việt do hoàn cảnh lịch sử để lại.

Với kết quả nghiên cứu và thực hiện như trên, chúng ta tin rằng bộ chữ ta đang có, có thể là thứ chữ của tổ tiên mà các bậc tiền bối của chúng ta bỏ ra công sức bao nhiêu năm tìm kiếm.

Nắm vững bộ giải mã chữ Việt cổ, lần tìm lại bước đường lưu lạc thăng trầm mấy chục thế kỷ của thứ di sản vô giá này, chúng ta sẽ phát hiện ra dấu tích chữ Việt cổ rất nhiều trong chữ Quốc ngữ. Chúng ta sẽ chứng minh được: chữ Quốc ngữ chỉ là bước phát triển đột biến của chữ Việt cổ. Chữ của thời đại Vua Hùng không hề mất mà vẫn tồn tại song song cùng dân tộc và sánh ngang hàng với các loại văn tự tiến bộ nhất của nhân loại.

Việt Trì, ngày 19 tháng 5 năm 2008

Đỗ Văn Xuyền

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: