Keep the memories

Mon Thay HVV

Dân tộc Chăm
Dân tộc Chăm còn có tên gọi khác là Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hroi… Tập trung ở Ninh Thuận và Bình Thuận.
Ngoài ra ở một số nơi như An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Phú Yên, thành phố Hồ Chí Minh cũng có một phần dân cư là người Chăm.
Nhóm ngôn ngữ: Malayô – Pôlinêxia.
Dân số: 148.021 người (ước tính năm 2003).

Đặc điểm kinh tế: Đồng bào Chăm sống ở đồng bằng, có truyền thống sản xuất lúa nước là chính. Kỹ thuật thâm canh lúa nước bằng các biện pháp giống, phân bón, thủy lợi khá thành thạo. Đồng bào Chăm biết buôn bán. Hai nghề thủ công nổi tiếng là đồ gốm và dệt vải sợi bông.Tr¬ước kia, người Chăm không trồng cây trong làng.
Tổ chức cộng đồng: Đồng bào có tập quán bố trí cư trú dân cư theo bàn cờ. Mỗi dòng họ, mỗi nhóm gia đình thân thuộc hay có khi chỉ một đại gia đình ở quây quần thành một khoảnh hình vuông hoặc hình chữ nhật. Trong làng, các khoảnh như thế ngăn cách với nhau bởi những con đường nhỏ. Phần lớn làng Chăm có dân số khoảng từ 1.000 người đến 2.000 người.
Hôn nhân gia đình: Chế độ mẫu hệ vẫn tồn tại ở người Chăm miền Trung. Tuy đàn ông thực tế đóng vai trò to lớn trong cuộc sống nhưng chủ gia đình luôn là người phụ nữ cao tuổi. Phong tục Chăm qui định con gái theo họ mẹ. Nhà gái cưới chồng cho con. Con trai ở rể nhà vợ. Chỉ con gái được thừa kế tài sản, đặc biệt người con gái út phải nuôi dưỡng cha mẹ già nên được phần chia tài sản lớn hơn các chị.

Nhà cửa:
Nhà cửa của đồng bào hầu như¬ có rất ít đặc điểm giống nhà của các cư¬ dân Malayô – Pôlinêxia nào khác.
Nói đến nhà ở của người Chăm ở Bình Thuận thì cái nhà chư¬a phải là cái đáng quan tâm nhất, mà là một quần thể nhà trong một khuôn viên. Mối quan hệ của các nhà trong quần thể này đã thể hiện quá trình rạn vỡ của hình thái gia đình lớn mẫu hệ để trở thành các gia đình nhỏ với các ngôi nhà ngắn.

Tháp Chăm là một nét độc đáo trong kiến trúc cổ Việt Nam
Bộ khung của người Chăm ở Bình Thuận khá đơn giản. Vì cột cơ bản là vì ba cột (không có kèo). Nếu là vì năm cột thì có thêm xà ngang đầu gác lên cây đòn tay cái nơi hai đầu cột con. Từ các kiểu vì này dần xuất hiện cây kèo và trở thành vì kèo.
Về mặt sinh hoạt, mỗi nhà trong khuôn viên có tổ chức mặt bằng khác nhau. Song, đồng bào cho rằng nhà thang yơ là kiểu nhà cổ nhất. Đó là nhà sàn, nhưng nay sàn rất thấp, gần sát mặt đất. Đầu hồi bên trái và một phần của mặt nhỏ dành cho khách, chủ nhà, kho… Với các nhà khách hình thức bố cục này hầu như vẫn được giữ lại. Khác chăng chỉ là hiên của nhà thang yơ được bưng kín để kê phản, bàn ghế
Đó là nói về nhà người Chăm ở Bình Thuận, còn nhà người Chăm ở miền Nam lại rất khác.
– Nhà người Chăm ở An Giang: cách tổ chức mặt bằng sinh hoạt còn phảng phất cái hình đồ sộ của nhà thang yơ ở Bình Thuận.
– Nhà người Chăm ở Châu Đốc: Khuôn viên của nhà Chăm Châu Đốc không còn nhiều nhà mà chỉ có nhà chính và nhà phụ kết hợp thành hình th¬ước thợ. Chuồng trâu bò và lợn được làm xa nhà ở. Nhà ở là nhà sàn, chân rất cao để phòng ngập lụt. Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt hoàn toàn khác với nhà ở Bình Thuận cũng như¬ ở An Giang
Trang phục:
Có những nhóm địa ph¬ương khác nhau với lối tạo dáng và trang trí riêng khó lẫn lộn với các tộc người trong nhóm ngôn ngữ hoặc khu vực.
Trang phục Chăm, vì có nhóm cơ bản là theo đạo Hồi nên cả nam và nữ lễ phục thiên về màu trắng. Có thể thấy đặc điểm trang phục là lối tạo hình áo (khá điển hình) là lối khoét cổ và can thân và nách từ một miếng vải khổ hẹp (hoặc can với áo dài) thẳng ở giữa làm trung tâm áo cho cả áo ngắn và áo dài. Mặt khác có thể thấy ở đây duy nhất là tộc còn thấy nam giới mặc váy ở nước ta với lối mang trang phục và phong cách thẩm mỹ riêng.
+ Trang phục nam
Nam mặc áo cánh xẻ ngực màu sáng hoặc tối. Đó là loại áo cổ tròn cài cúc. Có người mặc áo ngắn, xẻ ngực, cộc tay. Các đ¬ường viền ở cổ s¬ườn, hai thân tr¬ước và gấu được trang trí và đính các miếng kim loại hình tròn, có nhóm mặc lễ phục là loại áo dài xẻ nách trắng hoặc đỏ. Trang phục cổ truyền là chiếc váy và quần.

Vùng Thuận Hải, đàn ông lớn tuổi ¬thường để tóc dài, quấn khăn. Đó là loại khăn màu trắng có dệt thêu hoa văn ở các mép và hai đầu khăn cũng nh¬ư các tua vải. Khăn đội theo lối chữ nhân, hai đầu thả ra hai mang tai. Nhóm Chăm Hroi đội khăn trắng quấn gọn trên đầu.
+ Trang phục nữ
Về cơ bản, phụ nữ các nhóm Chăm ¬thường đội khăn. Cách hoặc là phủ trên mái tóc hoặc quấn gọn trên đầu, hoặc quấn theo lối chữ nhân, hoặc với loại khăn to quàng từ đầu rồi phủ kín vai. Khăn đội đầu chủ yếu là màu trắng, có loại được trang trí hoa văn theo lối viền các mép khăn (khăn to), nhóm Chăm Hroi thì đội khăn màu chàm. Lễ phục ¬thường có chiếc khăn vắt vai ngoài chiếc áo dài màu trắng. Đó là chiếc khăn dài tới 23m vắt qua vai chéo xuống hông, được dệt thêu hoa văn cẩn thận với các màu đỏ, trắng, vàng của các mô tip trong bố cục của dải băng.
Nhóm Khánh Hòa và một số nơi, chị em mặc quần bên trong áo dài. Nhóm Chăm Hroi mặc váy quấn (hở) có miếng đáp sau váy. Nhóm Quảng Ngãi mặc áo cánh xẻ ngực, cổ đeo vòng và các chuỗi hạt cườm.

Thiếu nữ Chăm Người Chăm Vân Canh ở Bình Định
Phụ nữ các nhóm Chăm thường đội khăn, hoặc phủ trên mái tóc, hoặc quấn gọn trên đầu, hoặc quấn theo lối chữ nhân, hoặc với loại khăn to quàng từ đầu rồi phủ kín vai. Lễ phục thường có chiếc khăn vắt vai ngoài chiếc áo dài màu trắng. Nhóm Khánh Hòa và một số nơi, chị em mặc quần bên trong áo dài. Nhóm Chăm Hroi mặc váy quấn (hở) có miếng đáp sau váy. Nhóm Quảng Ngãi mặc áo cánh xẻ ngực, cổ đeo vòng và các chuỗi hạt cườm. Màu sắc trong trang phục Chăm thiên về màu trắng.

Dân tộc Ê đê
Trang phục của người Ê Đê Tên gọi khác: Rađê, Đê, Kpa, A Dham, Krung, Ktul, Dlie Ruê, Blô, Epan, Mdhur, Bích.
Nhóm ngôn ngữ: Malayô – Pôlinêxia
Dân số: 306.333 người (ước tính năm 2003).
Cư trú: Tập trung ở tỉnh Đắc Lắc, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên của Việt Nam. Tại một số quốc gia khác như Campuchia, Thái lan, Hoa kỳ, Canada và các nước Bắc Âu cũng có một số người Ê đê sinh sống, song chưa có số liệu chính thức.
Đặc điểm kinh tế: Người Êđê làm rẫy là chính. Ngoài trồng trọt, đồng bào còn chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh cá, đan lát, dệt.
Hôn nhân gia đình: Người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, chủ nhà là phụ nữ, con cái mang họ mẹ, con trai không được hưởng thừa kế. Đàn ông cư trú trong nhà vợ. Nếu vợ chết và bên nhà vợ không còn ai thay thế thì người chồng phải về với chị em gái mình. Nếu chết, được đưa về chôn cất bên người thân của gia đình mẹ đẻ.
Văn hóa: Người Êđê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, đặc biệt là các Khan (trường ca, sử thi) nổi tiếng với Khan Đam San, Khan Đam Kteh Mlan… Đồng bào yêu ca hát và thích tấu nhạc. Nhạc cụ có chiêng, cồng, trống, sáo, khèn, đàn.

Nhà dài Ê Đê
Nhà cửa: Nhà người Ê Đê thuộc loại hình nhà sàn dài, bộ khung kết cấu đơn giản. Cái được coi là đặc trưng của nhà Ê Đê là hình thức của thang, cột sàn và cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt chia thành hai phần. Nửa đằng cửa chính (Gah) là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung của cả nhà dài, bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài (tới 20cm), chiêng ché… Nửa còn lại (Ôk) là bếp đặt chỗ nấu ăn chung và là chỗ ở của các đôi vợ chồng, chia đôi theo chiều dọc, phần về bên trái được coi là “trên” chia thành nhiều gian nhỏ; phần về bên phải là hàng lang để đi lại, về phía cuối là nơi đặt bếp…
Mỗi đầu nhà có một sân sàn. Sân sàn ở phía cửa chính được gọi là sân khách. Muốn vào nhà phải qua sân sàn. Nhà càng khá giả thì sân sàn càng rộng khang trang.
Trang phục:
Nam để tóc ngắn quấn khăn màu chàm nhiều vòng trên đầu. Y phục gồm áo và khố. Áo có hai loại cơ bản: loại áo dài tay, khoát cổ chui đầu, thân dài trùm mông, xẻ tà; và loại áo dài (quá ngối), khoét cổ, ống tay bình thường không trang trí như loại áo ngắn trên,… Khố có nhiều loại và được phân biệt ở sự ngắn dài có trang trí hoa văn như thế nào. Đẹp nhất là các loại ktêh, drai, đrêch, piêk, còn các loại bong và băl là loại khố thường. Nam giới cũng mang hoa tai và vòng cổ.

Phụ nữ Ê Đê để tóc dài buộc ra sau gáy. Họ mang áo váy trong trang phục thường nhật. Áo phụ nữ là loại áo ngắn dài tay, khoét cổ (loại cổ thấp hình thuyền) mặc kiểu chui đầu. Thân áo dài đến mông khi mặc cho ra ngoài váy. Cùng với áo là chiếc váy mở (tấm vải rộng làm váy) quấn quanh thân. Hiện nay nữ thanh niên thường mặc váy kín. Ngoài ra phụ nữ còn có áo lót cộc tay. Xưa họ để tóc theo kiểu búi tó và đội nón duôn bai. Họ mang đồ trang sức bằng bạc hoặc đồng. Vòng tay thường đeo thành bộ kép, nghe tiếng va chạm của chúng vào nhau họ có thể nhận ra người quen, thân.
Trang phục nói chung có đầy đủ các thành phần, chũng loại trang phục và phong cách thẩm mỹ khá tiêu biểu cho các dân tộc khu vực tây nguyên. Y phục cổ truyền của người Ê đê là màu chàm, có điểm những hoa văn sặc sở.
– trang phục nữ: phụ nữ mặc áo, quấn váy, là loại áo ngắn dài tay, khoét cổ, mặc kiểu chui đầu. than áo dài đến mông, khi mặc cho ra ngoài váy. Trên nền áo chàm được trang trí các dãi hoa văn sợi màu đò, trắng, vàng. Cái khác là người Ê đê không có phong cách trang trí đường ở giữa thân áo như người GiaRai, nữ còn có áo lót cộc tay (áo yếm).
– chiếc váy mở (tấm vải rộng làm váy) quấn quanh thân, hoa văn trang trí cũng giống như áo, thường tập trung ở mép trên và dưới than váy. Đây cũng là phong cách hơi khác người Gia Rai. Váy có nhiều loại: loại tốt là Myêng Đếch, rồi đến Myêng Đrai, Myêng Piek. loại hình thường mặc đi làm rẫy là Bon. Người Ê đê để tóc dài buộc Ra sau gáy, xưa còn có kiểu tóc búi tó và đôi nón Duôn Bai.
Đồng bào ưa dung đồ trang sức bằng đồng, bạc, hạt cườm. trước kia, tục cà răng quy định mọi người đều cắt cụt 6 chiếc răng cửa hàm trên, nhưng lớp trẻ ngày nay không cà răng nữa.
Tôn giáo: phần lớn người Ê đê theo đạo tin lành và đạo thiên chúa. một số ít theo phật giáo tại các vùng đô thị, họ thường đọc kinh cầu nguyện tại các nhà riêng của mục sư, hiện tại các nhà thờ tin lành vẫn chưa nhiều. những người theo công giáo Rôma thì thường đến các nhà thờ tại địa phương vào ngày chủ nhật, số còn lại vẫn theo nét tín ngưỡng cổ truyền, thờ cúng các thần hộ than cho mình.
Tang lễ: xưa kia có tục người cùng một dòng họ chết trong một thời gian gần nhau thì các quan tài được chôn chung cùng một huyệt, người chết được chia tài sản đặt ở nhà mồ. khi dựng nhà mồ, lễ bỏ mả được tổ chức linh đình, sau đo là sự kết thúc việc săn sóc vong linh và phần mộ.
Ngôn ngữ: người Ê đê thuộc ngôn ngữ mã lai- polinesia, so với các dân tộc ít người khác tại việt nam, người Ê đê là sắc dân có chữ viết theo bảng chữ cái la tinh khá sớm, có chữ viết từ thập niên 1920. Năm 2006 đã phát hành 20 ngàn cuốn kinh thánh tân ước song ngữ Ê đê – việt tại Việt nam.
Món ăn đặc trưng: người Ê đê ăn cơm tẻ bằng cách nấu trong nồi đất nung hay nồi đồng cở lớn. thức ăn có muối ớt, măng, rau, củ do hái lượm, cá thịt chim thú do đi săn. thức uống có rượu cần ở trong các vò sành. Đây được xem là thức uống đặc sản của đồng bào tây nguyên. Cơm lam là một thứ cơm được nấu trong ống nứa non thon nhỏ dài, khiến nhiều người phải thán phục, xôi nếp chỉ dùng trong dịp cúng thần, nam nữ đều có tục ăn trầu cau.
Tôn giáo: hiện nay dân tộc Ê đê còn có các lễ cúng phục vụ cho tín ngưỡng của mình như lễ cúng thần gió hay còn gọi là lễ cầu mưa, lễ ca ngợi những lao động của con người trong rừng núi và tiếp theo còn là lễ cúng thần mưa.
Lễ cúng vòng đời của con người từ lúc sinh ra đến khi chết đi con người luôn gắn liền với nghi lễ Lễ cúng lúa mới.

Dân tộc Raglai
Tên gọi khác: Ra Glây, Hai, Noana, La Vang, Ra – Glai hoặc Raglai.
Nhóm ngôn ngữ: Malayô – Pôlinêxia
Dân số: 70.000 người (ước tính năm 2003)
Cư trú: Sống chủ yếu ở phía Nam tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận
Đặc điểm kinh tế: Trước đây đồng bào sống du canh bằng nương rẫy. Trên rẫy thường trồng lúa ngô… Hiện nay đồng bào làm cả ruộng nước. Săn bắn, hái lượm và các nghề thủ công (chủ yếu là nghề rèn và đan lát) giữ vai trò quan trọng trong mỗi gia đình.
Tổ chức cộng đồng: Người Ra Glai sống thành từng pa-lây (làng) trên khu đất cao, bằng phẳng và gần nguồn nước. Số thành viên trong nhà thường gồm bố, mẹ và các con chưa lập gia đình. Đứng đầu pa-lây là pô pa-lây (trưởng làng), thường đó là người có công khai phá đất đầu tiên. Trưởng làng có trách nhiệm làm lễ cúng trời đất khi bị hạn hán nặng.
Hôn nhân gia đình: Trong xã hội người Ra Glai còn tồn tại chế độ mẫu hệ, còn tính theo dòng họ mẹ. Mẹ hay vợ là chủ nhà có quyền quyết định trong gia đình. Cô gái nếu ưng thuận chàng trai nào thì nói với bố mẹ lo lễ cưới chồng. Trong hôn nhân ngoài quyền của người mẹ, tiếng nói của ông cậu khá quan trọng. Người Ra Glai có nhiều dòng họ: Chăm Ma-Léc, Pi Năng, Pu Pươi, Asah, Ka-Tơ… trong đó họ Chăm Ma-Léc là đông hơn cả. Mỗi họ đều có một sự tích, truyền thuyết kể về nguồn gốc của họ mình.
Luật tục ra glai quy định đã thành vợ thành chồng thì không được bỏ nhau, song vợ chồng mà ở với nhau quá xung khắc, hai bên thông gia không thể giải hoà thì luật tục vẫn cho phép họ chia tay. người dàn ông khi ra khỏi nhà vợ không được mang theo bất kỳ tài sản gì nếu như người vợ không cho phép, lý do đơn giản là tài sản của gia đình phải để lại cho người vợ nuôi con.tuy nhiên, một số làng còn có quy định về việc phân chia tài sản như sau: nếu vợ tự ý bỏ chồng thì cô ta phải ở giá suốt đời, buộc “chịu của” cho chồng, bằng hình thức trả tiền công lao động, cứ một ngày cô ta phải trả cho chồng từ 15.000 đến 20.000 đồng, số tiền này được tính từ khi chồng sang ở nhà vợ cho đến lúc bỏ nhau. Ngược lại, nếu chồng bỏ vợ thì mức phạt nặng hơn, mức phạt được tính bằng một con lợn hoặc một con bò trên một ngày. Hai trường hợp trên nếu không thanh toán được cho nhau, thì làng lại bắt họ “ bắt nhau lại”. lại có làng quy định người chồng được chia tài sản dưới sự quyết định của vợ. nếu chồng lười biếng, rượu chè bê tha, thì gia đình bên vợ sẽ trả chồng về gia đình mà không cho bất cứ một thứ gì.
về vấn đề con nuôi thì người ra glai thường nhận con cháu trong dòng họ hoặc xin trẻ em đang bị bỏ rơi về nuôi dưỡng, chăm sóc. mặc dù luật hôn nhân và gia đình đã quy định, phải làm thủ tục đầy đủ trước khi nhận con nuôi, nhưng hầu như các gia đình ít tuân thủ. Trong ứng xử, người ra glai không phân biệt giữa con nuôi và con đẻ. đồng bào đề cao nguyên tắc bình đẳng trong giáo dục con cái.

Văn hóa: Người Ra Glai có những trường ca, truyện thần thoại, truyện cổ tích mang giá trị lịch sử, nghệ thuật và có tính giáo dục sâu sắc.
Hình thức hát đối đáp khá phổ biến trong sinh hoạt văn nghệ. Nhạc cụ của người Ra Glai gồm nhiều loại, ngoài chiêng, cồng còn có đàn bầu, kèn môi, đàn ống tre… người ra glai còn có các nghi liên quan đến đất đai, nương rẫy như: lễ cúng rẫy, lễ phát rẫy, lễ đốt rẫy, dọn rẫy mới (du canh) và những nghi lễ theo chu kỳ cây lúa như: lễ tỉa hạt, lễ cúng lúa chữa, lễ cúng lúa chín, lễ hội ăn lúa mới, lễ hội ăn đầu lúa. Đáng chú ý là lễ hội ăn lúa mới và lễ hội ăn đầu lúa, nhưng lễ hội ăn đầu lúa không được tổ chức định kỳ hàng năm, mà ba hay bảy năm mới làm một lần. hàng năm sau mùa thu hoạch cả làng hội tụ thịt trâu, bò, lợn để cúng Giàng và ăn mừng lúa mới và đây được xem là lễ tết của người ra glai. một nghi lễ rất quan trọng và không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người ra glai đó chính là lễ cầu mưa.
Nhà cửa: Nhà sàn truyền thống của dân tộc Ra Glai ninh thuận không chỉ thể hiện sự giao thoa văn hoá của các dân tộc anh em trong nhóm ngôn ngữ hệ nam đảo, mà còn thể hiện nét đặc trưng về bản sắc văn hoá của dân tộc ra glai, đó là văn hoá gia đình, văn hoá gia tộc và rộng hơn nữa đó là văn hoá cộng đồng.
Nhà sàn là nhà ở truyền thống của người Ra Glai. Từ nền đất đến nhà sàn không cao quá một mét nguyên liệu chủ yếu là tre, nứa, gỗ, lá rừng. nhà sàn dù lớn hay nhỏ không thể thiếu cột cái dựng ở giữa nhà, xuyên từ mái qua sàn xuống đất. mọi nghi lễ tín ngưỡng của gia tộc đều diễn ra xung quanh cột chính giữa nhà. Trong nhà sàn truyền thống đều có bếp lửa, đây được coi là nơi thiêng của người ra glai, hình mái nhà có dáng dấp của một chiếc thuyền úp xuống.
Trang phục: Không có cá tính tộc người qua trang phục mà chịu ảnh hưởng khá đậm của các dân tộc trong cùng nhóm ngôn ngữ (như Chăm, Ê Đê…).

Dân tộc Gia rai
I.KHÁI QUÁT CHUNG
Tên tự gọi: Gia Rai
Tên gọi khác:Giơ Ray, Chơ Ray
Nhóm địa phương: Chor, Hđrung (gồm cả Hbau và chor), Arap, Mthur, Tơbuân.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô – Pôlinêxia ( ngữ hệ Nam Đảo).
Hiện nay người Gia Rai có dân số trên khoảng 350.766 người ( ước tính năm 2003 ), sống chủ yếu tại các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và miền biên giới của hai tỉnh này với Campuchia.
II. KINH TẾ TRUYỀN THỐNG
Trồng trọt :
Người Gia Rai lấy kinh tế trồng trọt làm gốc, trong đó trồng lúa là nguồn sống chính của đồng bào. Nông nghiệp cuốc vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối, tuy việc nuôi trâu đã có từ rất sớm nhưng chưa được dùng làm sức kéo.
Đất đai vùng người Gia Rai được chia thành hai loại:
Đất chưa canh tác: được gọi bằng đê, tná, lon
Đất bắt đầu canh tác: gọi là hma
Đây là thuật ngữ vốn được dành riêng để chỉ khái niệm nương rẫy, về sau mở rộng hơn dùng để chỉ cả ruộng và vườn.
Từ một gốc hma, đất canh tác lại được chia thành nhiều loại khác nhau:
Rẫy đa canh ( hma mnai): là những khoảnh đất trồng trọt ở trạng thái nửa vườn nửa rẫy thuộc quyền sở hữu của từng gia đình.Ở đó người ta trồng: chuối, mít, dừa, đu đủ, mía, rau, bầu, bí, vừng, lạc, khoai lang,…có nơi người ta còn trồng bắp hoặc xen bắp.
Rẫy chuyên canh lúa (hma rưng, hma ró) là những thửa rẫy thuộc loại hình canh tác theo phương pháp phát, đốt và chọc lỗ tra hạt và quan trọng hơn là với loại đất này phải cuốc đất trước. Việc làm rẫy được tiến hành theo 2 cách. Có những mảnh chỉ trồng trỉa một vụ, sau đó bỏ hóa 8 – 12 năm. Cũng có những mảnh được canh tác liên tục nhiều vụ. Loại rẫy chuyên canh này đều trở thành đất tư hữu và là loại đất để sản xuất lương thực hết sức quan trọng. Ở cao nguyên Plâycu, rẫy là hình thức chỉ để trồng lúa.
Ruộng nước sơ khai (hma đnao) là ruộng được khai phá từ các đầm lầy, quanh năm có nước. Hma ia là ruộng được tạo bởi những mảnh rẫy lâu năm trên vùng đất trũng. Loại ruộng này bình thường không có nước, mưa xuống đọng thành vũng, việc canh tác được thực hiện. Cả hma đnao và hma ia đều dùng cuốc để xới và sục bùn.
Đất trồng trọt hma rất đa dạng. Bởi vậy có nhiều loại cuốc để thích hợp với đất của từng vùng. Trên hma rưng thường có nhiều đá, gốc cây…người ta thường hay sử dụng loại cuốc cầm một tay, lưỡi sắt dài (20 cm), hẹp bản (6cm). Nếu chỉ cần xới đấy không sâu thì dùng cuốc lưỡi nhỏ bán cầm một tay ( chông). Làm cỏ ở độ dốc cao thì dùng cuốc knor. Cào cỏ thì dùng hsar, một loại công cụ giống như cuốc nhưng làm bằng gỗ, nhỏ và có ba chạc, cầm một tay…Ở vùng Gia Rai rất phổ biến việc dùng cuốc bản trên các loại rẫy, vườn và ruộng. Bên cạnh các loại cuốc bằng sắt, ở vùng Gia rai còn tồn tại các công cụ cuốc bằng xương.
Đồng bào dùng các loại dao và rìu để chặt phá rừng làm rẫy. Việc chọc lỗ tra hạt ở đây có phần khác với nhiều nơi, tức là họ không câu nệ trong việc phân công nam cầm gậy chọc lỗ, nữ tra hạt.
Người ta đã chọn được nhiều giống lúa khác nhau thích ứng với từng loại đất và vùng tiểu khí hậu. Lúa tẻ ( pđai), lương thực chính của họ, có hàng chục loại như: mching, blá, bla, cham…trừ một số nơi làm ruộng nước người ta gieo mạ cấy, còn thường vẫn gieo thẳng, năng suất lúa khá cao. Ngoài lúa tẻ, đồng bào còn trồng lúa nếp và các loại hoa màu: sắn, ngô, bo bo…
Người Gia Rai có nông lịch riêng của mình. Tháng giêng được tính từ ngày có trận mưa đầu tiên, kết thúc sáu tháng khô hanh. Mùa gieo giống trên những hma bắt đầu. Tháng này tương đương với tháng 4 dương lịch. Tháng 12 lịch Gia Rai ( thánh 3 dương lịch) gọi là blan ning nông – tháng nghỉ ngơi và tổ chức các ngày lễ tôn giáo.
Ngoài sản xuất lương thực các gia đình còn chăn nuôi, làm nghề thủ công. Các hình thức chiếm đoạt tự nhiên vẫn được chú trọng, trong đó, việc săn bắn giữ vị trí lớn hơn hái lượm và đánh cá.
Chăn nuôi :
Chăn nuôi gia đình phát triển sớm. Đồng bào nuôi trâu, bò, ngựa, voi, lợn, gà, chó…Trong đó trâu được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo và được dùng làm vật ngang giá trong trao đổi những vật quý. Bò hầu như nhà nào cũng có dăm ba con. Riêng ở Ia yun pa, bò được nuôi nhiều hơn và dùng làm sức kéo trong nông nghiệp. Xưa kia ngựa là phương tiện vận chuyển quan trọng nên được chú ý phát triển. Đồng bào thường dùng ngựa vào những chuyến đi săn bò tót và làm vật trao đổi với thương lái từ Lào, Campuchia sang hoặc từ miền xuôi tới. Đồng bào cũng chú trọng đến việc nuôi voi để đi lại, thồ và kéo gỗ. Voi nhà thường ít sinh sản và người Gia Rai cũng không có kỹ thuật huấn luyện voi săn để bắt voi rừng. Xưa kia, các làng thường góp cổ phần, cử người sang vùng cao nguyên Bôlôven (Lào) hoặc đến bản Đôn ( Đăk Lăk ) để trao đổi lấy những con voi đã được thuần dưỡng. Lợn nuôi nhằm phục vụ nghi lễ tôn giáo, trao đổi hàng hóa. Họ nuôi theo phương pháp nửa thả rông, nửa để chăm sóc. Khi mổ lợn to có tập quán chia đều cho các gia đình trong làng. Dê nuôi để cúng và ăn thịt, chó để đi săn và giữ nhà. Trong lễ lạt, gà luôn được dùng làm vật hiến sinh và trong sinh hoạt thường ngày còn là một thứ hàng hóa để trao đổi. Ở nhiều nơi, người ta vẫn giữ tục lệ “ dựng chuồng gà”. Họ quy định chuồng gà phải được làm ngay sau khi dựng nhà mới, thống nhất một kiểu, một hướng trong làng.
Các nghề thủ công :
Đồng bào Gia Rai còn có một số nghề phụ. Nghề mộc chủ yếu là làm nhà và chuồng trại gia súc, chưa có kỹ thuật xẻ gỗ, bào đục và lắp ráp thành những đồ dùng gia đình. Nghề rèn ít phát triển hơn nhưng cũng có thể tự túc được nông cụ cần thiết, kể cả lưỡi cày. Nghề đan lát cũng khá phát triển. Việc biết chẻ tre, vót nan và đan đồ gia dụng là một trong những chuẩn mực của nam giới khi đến tuổi trưởng thành. Người ta còn đòi hỏi ở họ biết đan cả những hoa văn phức tạp và có mỹ thuật trên sản phẩm. Gùi là sản phẩm khá nổi tiếng của người Gia Rai, có thể dùng để cất chứa đổ mặc, đồ trang sức, có loại dùng làm đồ đựng trong khi di chuyển. Những chiếc gùi đẹp mang ở sau lưng còn là vật góp phần trang điểm cho các cô gái thêm một sắc thái dân tộc.
Nghề đan còn là cơ sở kỹ thuật góp phần làm nảy sinh nghề dệt vải. Nghệ thuật đan cài hoa văn bằng nan tre, mây cũng được áp dụng trong việc trang trí hoa văn màu trên nền vải thể hiện ở những tấm mền chăn, váy, áo, khố. Đây là một nghề thủ công khá đặc sắc của dân tộc Gia Rai. Người ta trồng bông hoặc đôi nơi còn dùng cả lanh hoang dại để làm sợi. Cũng như các dân tộc khác ở Tây nguyên, họ không dệt bằng khung cửi. Họ giăng sợi thành một vòng khép kín qua một chiếc go rồi lấy hai đoạn cây căng ra. Khi dệt họ lấy dây buộc đoạn cây chăng qua lưng, còn đầu kia buộc vào cây cột để cho mặt sợi căng thẳng tạo thành một cái “ khung dệt”. Họ không dùng thoi mà dùng suốt chỉ để dệt sợi ngang. Đây được gọi là kỹ thuật dệt kiểu Anhđônêđiêng. Tuy chỉ còn thô sơ nhưng người dệt có thể tạo ra được tấm vải rộng, hẹp tùy ý. Khổ vải thường rộng tới 90 cm hoặc hơn nữa. Việc thể hiện các họa tiết trang trí dùng chỉ đan như dệt thảm len ở một mức độ nhất định đã cho phép người thợ thủ công tạo ra các hoa văn tùy ý. Đã xuất hiện những hoa văn miêu tả sinh hoạt của người, của các con vật, phong cảnh và lãnh tụ…Sản phẩm dệt chủ yếu là những tấm mền để đắp, khoác, những chiếc váy hoặc khố. Họ làm ra trước hết là để tự túc, hoặc để đổi lấy vật phẩm cần thiết hoặc bán ra thị trường.
Ngoài việc sản xuất ra của cải vật chất, họ còn hái lượm, săn bắn, và đánh cá. Săn cá nhân, đáng chú ý là việc sử dụng rất thông thạo chiếc ná (nỏ) và các loại bẫy có thể diệt được những con vật nhỏ như chim, chuột…đến những thú lớn như voi, hổ, báo, tê giác…Săn tập thể có nhiều hình thức, trong đó việc săn bò tót của họ khá nổi tiếng. Người đi săn cưỡi ngựa đuổi thú, dùng lao phóng hoặc lùa xuống vực, dồn vào chỗ vây săn để diệt. Đây cũng là dịp rèn luyện lòng dũng cảm, thử thách tài năng, lựa chọn người dũng sĩ đầu làng trong các cuộc chinh chiến xưa kia. Những thú lớn săn được thường đem về mổ và chia đều cho các gia đình trong làng cùng hưởng.
III.VĂN HÓA VẬT CHẤT
1. Công cụ sản xuất
Nông nghiệp cuốc vẫn chiếm ưu thế. Đất trồng trọt gọi là hma rất đa dạng nên có rất nhiều loịa cuốc để thích hợp với nhiều loại đất của từng vùng.
Cuốc cầm một tay: lưỡi sắt dài (20 cm), hẹp bản (6cm)… dùng trên các hma rưng có nhiều đá, gốc cây…
cuốc lưỡi nhỏ bản (chông) cầm một tay… dùng khi xới đất không sâu.
Cuốc knor :là loại cuốc dùng để làm cỏ ở vùng có độ dốc cao.
Cuốc bàn (chong hay cchong) là loại cuốc được dùng phổ biến ở vùng Gia Rai. cuốc được sử dụng trên các loại rẫy, vườn, ruộng.
Hsar : là loại cào dùng để cào cỏ. Đây là loại công cụ giống như cuốc nhưng bằng gỗ, nhỏ, có ba chạc , cầm một tay….
Ngoài ra ở vùng Gia Rai còn tồn tại công cụ cuốc bằng xương. Dao(rbóc, tga) và rìu cũng được dùng để chặt phá cây rừng làm rẫy.
2. Trang phục
Trang phục của người Gia Rai có nhiều độc đáo, giàu màu sắc hơn so với các dân tộc trong khu vực góp phần tạo nên sắc thái trang phục đa dạng của vùng Bắc Tây Nguyên.
điểm nổi bật trong trang phục của người Gia Rai là kỹ thuật dệt vải và các hoa trang trí hoa văn mang màu sắc thủ công truyền thống đó là việc dệt vải không dùng khung dệt mà họ giăng sợi thành một vòng khép kín qua một chiếc go rồi láy hai đoạn cây căng ra. Khi dệt họ lấy dây buộc đoạn cây chăng qua lưng, còn đầu kia buộc vào cây cột để cho mặt sợi căng thành một cái khung dệt. họ không dùng thoi mà dung suốt chỉ để dệt sợi ngang.
Nhìn vào trang phục của người Gia Rai ta thấy một nét hoa văn bao trùm là hình học hoá thường là các hình song song nhiều biến thể của nó.
người Gia Rai dệt vải và trang trí trên nền đen với những trang trí xanh, đỏ, vàng, trắng.
hoa văn trên trang phục phần lớn là nhưng đường thẳng song song với nhiều biến thể , đường sóng nước và những biến thể của nó, hình răng cưa , hình ô trám với nhiều biến thể, hình sao, hình người cách điệu.
Nền của trang phục là màu chàm đen. Họ nhuộm chàm bằng lá chàm có pha một số thứ khác để dệt. Các đồ án hoa văn trên vải cũng được nhuộm màu từ trước bằng các sản vật tự nhiên như màu đỏ lấy từ cây rừng, cùng với vỏ cây tơ nưng, màu vàng lấy từ củ nghệ….
Trang phục nam giới
Khăn : chít khăn màu chàm đen quanh đầu rồi dắt mối vào trong hay để xoã ra ngoài.
Aó : có hai loại loại có tay và loại không có tay.
+ Áo không tay: gọi là aolo được may khá đơn giản. Trên một mảnh vải hình chữ nhật, người ta gập đôi lại sau đó khoét lỗ ở cổ ở giữa đường gấp, hai mép sườn khâu lại chỉ để đoạn ở dưới xẻ tà. Trên áo có đường viền hoa văn bả vai chạy xuống hai bên sườn.
+ Aó có tay : cũng giống như áo không tay nhưng được nối thêm hai cánh tay áo, trên đường bả vai , nách, cửa tay có trang trí các đường viền màu.Loại áo sang trọng mà các thủ lĩnh ngày xưa hay măc có trang trí thêm mảnh vải đỏ hoặc chỉ đỏ trước ngực giống hệt như trên có của đàn ông Êđê, gọi là “đại bàng giang cánh”.
Trời lạnh thì nam giới khoác lên tấm mền hay vắt chéo trước ngực. có hai loại mền: loại mền màu đen và loại mền màu trắng. Mền có chiều ngang khoảng 2m, tức can hai khổ vải dệt lại, còn chiều dài thì dài hơn một chút.
Khố : có hai loại : loại khố mặc thường ngày và loại khố mặc trong nghi lễ.
+ Khố mặc thường: có tên là toai lui, tức là khố bỏ trống, may bằng vải mộc để trắng, có một vài đường kẻ cọc màu đen.
+ Khố mặc trong dịp nghi lễ : dài hơn 4m, may bằng vải chàm đen trên có trang trí hoa văn theo rìa dọc khố đặc biệt là đầu khố có đính thêm hạt cườm và các ua màu đen và đỏ.
Trang phục nữ giới.
Tóc : Phu nữ có chồng thường chải tóc rồi búi gọn sau gáy còn thanh niên thì có thể bỏ xõa tóc. Phụ nữ ít chit khăn.
Áo : có hai loại loại áo có tay vá loại áo khong có tay.
Đặc điểm chung của cả hai loại áo này đó là: Kiểu chui đầu, cổ khoét cao, mở cúc ở đường bờ vai. Trên đó có trang trí những giải hoa vănỉơ chân gấu áo, ngang ngực, hai bên vai và nách, trên hai cánh tay. những giải hoa văn này đều rực lên sắc đỏ nổi bật giữa nền chàm đen của áo.
Trên cánh tay áo dài của người phụ nữ Gia Rai Ayun Pa có một giải trang trí màu trắng gồm những ô màu trắng hình chữ nhật riêng rẽ nối tiếp nhau trên nền chàm đen của cánh tay tạo thành một nét trang trí độc đáo như làm hoà dịu sự đối chọi giừa đen và đỏ trên trang phục.
Váy : ngày thường mặc loại váy chàm giản dị, hầu như không có hoa văn gì đáng kể . váy được mặc bằng cách quấn quấn quanh thân từ eo bụng trở xuống, mép giắt vào hông bên phải, rồi dùng thắt lưng buộc lại.
Trong các dịp lễ thì mặc váy đẹp hơn có trang trí hoa văn. Nét đặc trưng trwn váy của phụ nữ Gia Rai không phải là những giải hoa văn trang trí ở hai đầu và chân váy, giữa thân váy mà là tấm vải đáp có nhiều hoa năn trang trí ở vị trí phần mông của váy.
Đồ trang sức: vòng tay, vòng chân băng đồng, những sợi dây chuyền bằng đồng hoặc hạt cườm.
3 . Nhà ở
Nhà ở cổ truyền của người Gia Rai là nhà sàn .kết cấu bộ khung nhjà của người Gia Rai không phải là bộ khung nhà vì kèo mà là vì cột như nhà cử các dân cư khác ở Tây Nguyên.
Nhà sàn của người Gia Rai gồm có hai loại : nhà sàn dài và nhà sàn ngắn.
Nhà sàn dài kiểu Ia-yun-pa:
Nhà sàn loại này thường dài 13,5m, rồng 3,5m với những nét chính mang truyền thống Ia-yun-pa. Căn cứ vào cột ngăn, người ta chia nhà làm hai phần: từ hàng cột đó sang bên phải gọi là mang mang và sang bên trái là mang óc. Cửa óc bao giờ cũng quay về hướng Bắc, hướng chính của nhà. Bên óc là bên dành cho những người đàn bà, chủ gia đình mẫu hệ.
Chú thích:
1. Thang bên mang: là thang dành cho khách lên xuống.
2. Sân bên mang : là nơi tụ tập của trai gái lúc trời tối.
3. Cửa mang : là nơi vào trong nhà của khách.
4. Gian dành cho sinh hoạt cộng đồng : là nơi tiếp khách , uống rươu nhảy múa và đánh cồng chiêng. Đây là chỗ ngủ của lhchs khi họ ở lại nhà chủ.
5, 6, 7, 8 là các cửa sổ.
9. Bếp để cúng giàng.
10. Cột mốc để phân chia giữa bên mang và bên óc.
11. Gian dành cho con gái kế thừa. Con cái sẽ ngủ ở gian này.
12. Là nơi có thể đặt bếp hoặc một ché rượu thay cho bếp.
13. Giường ngủ dành cho vợ chồng chủ nhà. vợ chồng chủ nhà năm bao giờ đầu cũng phải quay về hướng phía Đông ở gian chính mà hồi bên phải là óc.
14. Bếp để nấu ăn.
15. Cửa bên óc dành cho chủ nhà ra vào
16. Sân sàn óc là nơi dành cho sinh hoạt của phụ nữ. khách lạ không được đến chỗ này.
17 . Thang bên óc : là thang dành cho gia đình chủ nhà len xuống khách không đưọac lên lối này.
b. Nhà sàn nhỏ kiểu Hđrung:
Đây là một loại nhà phân bố rộng rãi trên cao nguyên Plây cu. Những nhà sàn nhỏ này bề rộng không quá 3m và bề dài thường không quá 9m. Chiều cao từ mặt đất đến đòn nóc không quá 4,5m, tới mặt sàn thường không quá 1,2m, từ mặt sàn lên xà nâng mái 1,8m.
Nhà nhỏ, đơn giản, được xây theo hai bước rõ rệt. Đầu tiên là việc làm kết cấu, sau đó dựng cột, làm kết cấu sàn và khiêng mái úp lên khung sao cho xá nâng mái ăn khớp vào các mộng ở đầu cột. Tiếp đến là làm các phần khác như quây vách, làm bếp…
Chú thích :
1.Chỗ ngủ của chủ nhà.
2. Cửa sổ.
3. Bếp chính.
4. Cột mốc.
5. Nơi để chiêng, ché.
6. Nơi để tiếp khách uống rượu.Đây là chõ ngủ của khách.
7. Chỗ ngủ của vợ chồng con cái.
8. Cửa sổ.
9. Cửa ra vào.
10. Sàn phơi.
11. Thang để lên xuống.
c. Nhà mồ của người Gia Rai trong bảo tàng dân tộc học
Ngôi nhà mồ đang trưng bày trong B ảo tàng dân tộc họcthuộc nhóm Gia Rai Aráp, được sưu tầm tạilàng Mrông, xã Iaka, huyện Chư Pảh tỉnh Gia Lai.
Ngoi nha nay được dựng bởi 5 nhóm địa phương là người dân tộc Gia Rai, do nghệ nhân Rơ chom Uek 68 tuổi làm trưởng nhóm.
Đây là kiểu nhà trệt, hình chữ nhật, hai mái chính hình thang cân, đều có nan lồ ô phủ lên trên, hai mái này được vẽ hoa văn trang trí. Phía hai đầu nóc nhà cohình cây rau dớn vểnh lên.
Nhà mồ có chiều dài 8m, chiều rộng 2,3m, cao 2,5m, phía ngoài song song với bức vách là hàng rào cao 0,8-0,85m dựng bằng gỗ tròn trôn sát nhau, tính cả hàng rào bao quanh thì diện tích khoảng 45-55m2. Phía trong ngôi nhà mồ có một số đồ tuỳ tán như : ché bị đập thủng đáy được chôn chìm xuống đất chỉ để hở phần cổ miệng, một ít vỏ bầu một vài chiếc gùi và hai bộ khung dệt, dụng cụ làm rẫy : dao, rìu, cuốc rẫy cỏ .
Phần ngoài cùng của chính diện ngôi nhà có một gian tế bằng gỗ. Tại hàng rào phía đông có hai cửa để người sống vào thăm nom nhà mồ. Phía ngoài cùng của hàng rào, mặt phía tây ngôi nhà có chôn tám cột để buộc trâu bò trong lễ bỏ mả, mỗi cột đều có dây để buộc vào cổ con vật bị hiến sinh.
+.Thần nhà: là thần bảo vệ nhà cửa, khi dựng nhà thì phải làm lễ đâm trâu, lễ trồng cây gaọ…
+.Thần nhà và thần bến nước là lực lượng siêu nhiên bảo vệ xóm làng và che chở cuộc sống của người dân.
+.Thần ma: là người lam phui phep để thông qua các nghi lễ tôn giáo câu mong mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt.
Hiện thân của các vị thân ấy la vua nước, vua gió (ptao angina) ở xã Chư Athai huyện Ya yun pa và vua lửa ở huyện Chư Prông.
.Đây là sự manh nha thể loaị âm nhạc mang tính sân khấu .Các hình thức sinh hoạt âm nhạc gắn liền với các nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo,nghi lễ nông nghiệp.Âm nhac Giarai chưa trở thành một hình thức sinh hoạt độc lập.
Bên cạnh đó còn có các làn điệu dân ca cũng rất phong phú và đa dạng như :
Hát Ru:là phương thức biểu đạt tình cảm của con người đối với con người cũng như hiện thực khách quan .Hát Ru của người Giarai mang tính chất chung của thể loại hát ru:giai điệu mềm mại,ít thấy quãng rộng,tốc độ vừa phảI,lời ca mộc mạc đơn giản thường khuyên em bé đừng khóc ba mẹ bận việc lên rẫy…
Hát Đồng Dao:là thể loại hát dân ca được các em nhỏ vừa chơI vừa hát,thường hát trên bãI chăn trâu bò dưới sàn nhà dài vào buổi trưa hoặc trên nhà rông vào buổi tối. Âm nhạc trong đồng dao cũng hết sức đơn giản,thường chỉ có hai tiết nhạc ngắn mang tính chất hỏi đáp. Lời ca là những câu văn vần từ ba tới bốn âm tiết,mỗi âm tiết là một nốt nhạc.Nhịp độ các bài đồng dao tuỳ thuộc vào ngữ cảnh của cuộc vui,nếu đông vui thì các em hát với tốc độ hơI nhanh,nếu chỉ có bốn năm bạn thì tốc độ vửa phảI. Tất cả các bài đồng dao thường bắt đầu bằng một phách lấy đà,phách lấy đà chứa hai nốt đơn. Nhịp của tất cả các bài đồng dao là 2/4
Hát Giao Duyên:là một thể loại hát dân ca trữ tình thường đanh cho các chàng trai cô gái.Đây là một thể loại hát dân ca khá phổ biến trong tất cả các dân tộc Việt Nam và Đông Nam á.
Hát sinh hoạt: được dùng rộng rãI trong quần chúng và các em nhỏ,không gian và thời gian không hạn chế,nó được vang lên khắp mọi lúc mọi nơi:trong lễ bỏ mả,lễ đâm trâu ,lao động sản xuất,trên nương rẫy,bên bếp lửa hồng…hát để bày tỏ quê hương xứ sở để san sẻ niềm thương nỗi nhớ bày tỏ lòng biết ơn với buôn làng,họ mạc xua tan nỗi nhọc nhằn …Đây là loại dân ca mang tính quần chúng rộng raĩ được diễn xướng tự nhiên vì thế nó mang tính chất ứng khẩu.
Hát Kể và trường ca:là loại hình nghệ thuật mang tính nguyên hợp gồm cả yếu tố văn xuôI ,thơ ca và sân khấu,không được lưu giữ bằng văn bản bao giờ cũng được thể hiện bằng lời hát kể của nghệ nhân trước cộng đồng PlơI,lời hát bao giờ cũng ở nhịp độ bình thường ,giai điệu lúc trầm lúc bổng,lúc kể nhanh,lúc chậm tạo không gian đặc biệt thu hút đông đảo người nghe
II. Hình thái tổ chức gia đình và xã hội..
Hình thái tổ chưc gia đình.
Người Giarai sống theo chế độ mẫu hệ. Việc hôn nhân giữa những người trong dòng họ bị nghiêm cấm. Thậm chí, đã từng mang tên họ nhưng không có quan hệ gi vềd huyết thống cũng không được lấy nhau. Trên nguyên tăc cơ ban của hôn nhân ngoại tộ đó, đã xuất hiện hàng loạt các qui định có tính chấ tập quán cho phép hay ngăn cấm kết hôn.Vi phạm điều ngăn cấm coi như là loạn luân và phải chịu hình phạt nặng như bị đuổi khỏi làng, bị lăng nhục sau khi nộp trâu để làm lễ tế thần.
Con dì, con già, con chú, con bác không được lấy nhau, trong khi tập quán khuyến khích hôn nhân con chú con cậu. Sự cấm đoán két hôn giữa con của chi em gái năm trong ngoạu tộc của hôn nhân. Đó là thành viên sinh ra từ môt bà tổ dù đến dời cháu , chắt cũng không được lấy nhau. Còn việc hôn nhân cua con anh en trai thì thường bị ngăn cấm trên hai cơ sở. Thứ nhat la chú, bác và cha là những đàn ông được sinh ra từ một mẹ. Thứ hai, dì, già và mẹ đồng thời là vợ của cha , chú, bác trong các trường hợp hôn nhân con cô, con cậu nảy sinh.Có thể biểu diễn hôn nhân của người Giarai theo sơ đồ sau:
Hôn nhân Giarai con bảo lưu trong các trường hợp chông chết, vợ lấy em chồng. Ngược lại, vợ chết chồng cũng có thể lấy em vợ. Cả hai trường hơp đều không bắt buộc hay khuyến khích mà chi đựoc phong tục chấp nhân.
Trong các trường hợp, dòng họ đã phân chia thành các ngành như: Rchor prông, Rchor đét…hôn nhân cũng bị ngăn cấm. Á trong phạm vi phân thành họ như: Kpa và pui, tuỳ từng trường hợp cụ thể có thể lấy hoặc không láy được nhau, nhưng không khuyến khích.
vô chi vô giác khác nhau như :Rhahlan là đường đi,Ksor là dãy bỏ hoá… theo sự tích,sở dĩ các họ có tên gọi đó vì đều là con của nàng Hbia Hkrang.Đây Cũng là cơ sở để người gia rai cho rằnghọ có chung1 cội nguồn.Bên cạnh đó,lại có hàng loạt truyện kể cho rằng từ 1 họ gốc đã sinh ra các họ khác.Chẳng hạn như Ksor sinh ra họ Siu,họ Kpa sinh ra họ Pui…Moõi họ thường phân chia làm nhiều ngành,có hộ phân thành 2 như Rchom Prông ngành trưởng,Rchom đét _ngành thứ.
-Việc cấm kết hôn và với một số khả năng có thể có những cuộc kết hôn đặc biệt với chị em họ xa.
2.Tổ chức xã hội
Do đát trồng trọt,đặc biệt ở 2 khu vực hma mna và hma đnao đã ổn định nên đại bộ phận đông bào sống định cư. Họ cư trú theo từng đơn vị lành gọi la ploi hoạc bôn. Bôn thường chi dung phổ bién tư thung lũng ia yun pa đến cao nguyên đac lac.
Tên làng thường chỉ co 1 ý nghĩa nhất đinh. Làng đặt theo tên dong nước như: Ploi Phin (có suối PHin), Bôn broai (co mỏ nước Broái) ,Bôn AmaHBu(làng cha nàng Hbu)…Có những làng mang tên của 1 người và giữ mãi tên đó, nhưng cũng có những làng mang tên cha sau khi chết thì chuyển sang tên con rể, vì theo mẫu hê. Nhiều làng có thể tinh theo tuổi.
Môt làng khi tách ra thành nhièu làng những làng mới co tên riêng: con làng cũ thi được gọi kem theo 1 bổ ngữ gọi la Rơn gon. Căn cứ vào nhưng tên của các Ploi Rơn gon có thể biết được sự chuyển dịch của các làng.
Khi dựng nhà mới đồng bào thường trải qua 1 trình tự dường như thống nhất giữa các vùng. Thoạt tiên người ta tiến hành nghi thức bói tim đất. Sau đó tổ chưc ăn, uống hò reo và múa chiêng 3 ngày 3 đêm với du ý la đánh thức thần đất dậy. Cả làng dựng lều để ở tam. Già làng đem 7 hột gạo đặt trên mặt đất rồi lấy cái bbát úp lên để bối, tìm hiểu sự linh ứng cua thần đất. Sau 3 ngày đêm nêú 7 hột gạo con nguyên là thuận.Ngược lại nếu mất hột nào là không thuận, phảI đi tìm nơi khác.Khi bói được đất dựng nhà thường thì vị đứng đầu langf dựng nhà trước rồi lần lượt đến các gia đình theo sự hướng dẫn của chủ lang.
Làng Giarai được xây dựng thei hệ thống định hướng. Họ sống khá tâp trung lang nhỏ tới hàng chục làng lớn đến hàng hơn trăn nóc nhà. Cửa chính của nhà quay về hướng bắc cũng la hướng chính của lang. Hiện nay các làng đang phát triển việc sap xép nhà cửa theo kiểu đường phố.
Khác xưa, nay đồng bào không có hàng rào quanh làng. Mỗi nhà chưa hình thành 1 khuôn viên nên chưa có ranh giới chỉ có làng của nhóm Chor là không có nhà Rông. Làng thuộc các nhóm khác xây dựng nhà Rông ở chình giữa nhỏ hơn nhà Rông của người Bana và Xơđăng.
Người làm chứng và người xét xử đều là chủ làng và già làng.Trong xã hội Giarai có những già làng có tài ăn nói,am hiểu phong tục tập quán,biết xét xử.Họ đã lợi dụng các vụ kiện để ăn của đút lót và một số trở lên giàu có.
Tổ chức xã hội người Giarai đã vượt ra khỏi phạm vi làng độc lập để hình thành những cộng đồng lớn hơn là tơ ring.Tơ ring vốn là cộng đồng lãnh thổ, những làng cùng tơ ring có thể do một làng gốc phát triển thành các làng lân cận.Theo tập quán,họ vẫn quen gọi nhau những người trong một làng.Tuy nhiên cũng không thể loại trừ nguyên nhân do xung đột vũ trang giữa các làng trong lịch sử đã làm xuất hiện các lien minh làng.Lúc đó,từ một cộng đồng lãnh thổ tơ ring lại có thẻ phát triển thành một lien minh mang tính chất quân sự
Trước khi hạ huyệt ,một người thân phải bỏ xuống đó vài hạt gạo . Sauk hi hạ quan tài xuống huyêt và lấp đát, người ta đặt ở phía đầu huyệt một vò rượu cồn ( đập thủng đáy và ghè bỏ đai),bên trên phủ 1 cánh gai.Có nơi người ta còn chôn một ông tre thông xuống quan tài để hàng ngày bỏ coam ,muối,rượu cho người chết ăn uống (vào lúc xế chiều).
Nhà mồ là 1 nhà đất được chắp nối đầu ,cứ một người chết lại một lần nối thêm và sửa chửa lại cho mới.
dự như 1 sự đoàn kết của liên minh dòng họ nhát là dòng họ giàu có uy tín ,thì lễ bỏ mả càng quy mô ,tiếng tăm .
Suốt cả buổi chiều hôm thứ 2 của lễ bỏ mả là vui chơi, là bữa ăn uống cộng đồng và cộng cảm lớn.Chính tại lễ bỏ mả người Gia Rai làm đầy đủ các món thực sự của dân tộc mình.Do đó lễ bỏ mả còn là một cuộc trình diễn nghệ thuật làm các món ăn dân tộc nữa.
Nêú như ở những bữa ăn thường ngày của người Gia Rai ARap chỉ có món chính chỉ có cơm và rau thì ở bữa ăn trong lễ bỏ mả xuất hiện hàng chục món ăn, món nào cũng được chế biến công phu.Cũng từ gạo để làm các món ăn,nhưng các món ăn chế từ gạo ở lễ bỏ mả có tới 5-7 món:Cơm Lam, bột Gạo nấu với lá sắn và thịt,bột gạo nấu với thịt và rau ngót.

Dân tộc Churu
Tên gọi khác: Cho Ru, Kru, Thượng.
Ngôn ngữ: thuộc nhóm Nam đảo, gần với tiếng chăm. một bộ phận người Churu sống gần với người cơ ho nên nói tiếng cơ ho (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer).
Dân số: 16.972 người (ước tính năm 2003).
Lịch sử: Có lẽ xa xưa, tổ tiên người Chu Ru là một bộ phận trong khối cộng đồng Chăm; về sau, họ chuyển lên miền núi sống biệt lập với cộng đồng gốc nên thành người Chu Ru.
Ðịa bàn cư trú: Phần lớn ở Ðơn Dương (Lâm Ðồng), số ít ở Bình Thuận, Ninh thuận.
Kinh tế: người Churu sống định cư, định canh trên cơ sở truyền thống nông nghiệp từ lâu đời. nghề trồng trọt chiếm vị trí hang đầu trong đời sống kinh tế và lùa nước là cây lương thực chủ yếu. việc làm thuỷ lơi, đê, đập được chú trọng. chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắt, hái lượm và đánh cá là hoạt động thường xuyên. nghề thủ công gia đình phổ biến có đan, lát, gốm thô.
Chiếc gùi nan cõng trên lưng vẫn là phương tiện vận chuyển được sử dụng thường xuyên cho mọi người.
Tổ chức cộng đồng: làng Churu thường là một đơn vị cư trú láng giềng, một làng bao gồm nhiều dòng họ hoặc gồm cả những người khác tộc cùng cư trú. chủ làng là do tất cả các thành viên trong làng lựa chọn trong số những người đàn ông cao tuổi nhất (các tha plơi), còn các thầy cúng, người phụ trách công việc thuỷ lợi và hai người giúp việc, hai bà đỡ gọi là “mọ boại” hay “mọ lo”.
tất cả những người đó có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng. họ hợp thành tổ chức tự quản, một tổ chức chính trị – xã hội cao nhất mà người Churu đã đạt đến. làng hầu như là một đơn vị kinh tế tự túc, tự cấp tương đối độc lập. dưới làng là những cộng đồng huyết thống như: dòng họ, gia đình lớn và gia đình nhỏ.
Phong tục tập quán: Thờ cúng tổ tiên và chỉ cúng ngoài nghĩa địa. Thờ nhiều thần liên quan đến các nghi lễ nông nghiệp.
Hôn nhân gia đình: Sống định canh định cư. Một gia đình gồm 3-4 thế hệ. Hôn nhân một vợ, một chồng, con gái chủ động cưới, người chồng ở rể. : trong gia đình lớn của người Churu còn mang nhiều tàn dư mẫu hệ, với vai trò được tôn vinh là người phụ nữ, người kế thừa của gia đình dòng họ mẹ. nếu nhìn vào bộ máy tự quản ở các làng thì ta thấy, người đàn ông đang đứng mũi chịu sào trong mọi lĩnh vực, để cho văn hoá được vận hành theo định hướng của ông bà xưa. thực ra, họ hành động theo ý chí của người vợ, người chủ nhân ngôi nhà mà họ đang cư ngụ theo tục cưới chồng. xã hội đã có sự phân hoá giàu nghèo, nhưng không có sự xung đột giữa hai tầng lớp ấy trong làng. người phụ nữ chủ động trong quan hệ lúa đôi. việc “hỏi chồng” và “cưới chồng” được thực hiện qua những thông tin ở việc trao tặng chàng trai chiếc nhẫn và chuỗi hạt cườm sau lễ cưới
Văn hoá: Làng gồm nhiều dòng họ hoặc khác tộc cư trú. Ðứng đầu là trưởng làng (Pô plây), sau là thầy cúng. Có vốn dân ca, ca dao, tục ngữ phong phú.
Lễ tết: Một năm với chu kỳ canh tác ruộng nước, người Chu Ru có nhiều nghi lễ như: cúng thần đập nước, thần mương nước, thần lúa khi gieo hạt, ăn mừng lúa mới, cúng sau mùa thu hoạch. Ðáng lưu ý là lễ cúng thần bơnung vào tháng hai âm lịch, dân làng thường hiến sinh dê. Và lễ cúng Yang Wer, một cây đại thụ ở gần làng, được coi là nơi ngự trị của các thần linh. Người ta thường làm những hình nộm dã thú bằng gỗ hay củ chuối để đặt dưới gốc cây.

Văn nghệ: Vốn ca dao, tục ngữ rất phong phú, phản ánh việc đề cao vai trò phụ nữ, ca ngợi chế độ gia đình mẫu hệ. Về nhạc cụ, đáng lưu ý là trống, kèn và chiêng. Ngoài ra còn một số nhạc cụ khác như: r’tông, kwao, terlia là những nhạc cụ đặc sắc của người Chu Ru. Trong hội hè, nhạc cổ truyền Chu Ru thường được cất lên cùng với vũ điệu tamga nổi tiếng.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: