Keep the memories

THẦY AUSTIN

Mục lục

1. Lý do chọn đề tài. 2

2. Lịch sử vấn đề. 2

3. Mục đích nghiên cứu. 4

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 4

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (nếu thành công) 4

6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu. 5

7. Bồ cục của đề tài 5

CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN CỦA THƠ ĐƯỜNG.. 6

1. Thời Sơ Ðường (618 – 713). 7

2. Thời Thịnh Ðường (713- 766). 9

3. Thời Trung Ðường (766 -835). 11

4. Thời Vãn Ðường (836 – 905). 13

CHƯƠNG II: CÁC THỂ THƠ TRONG ÐƯỜNG THI. 15

1. Cổ Thể Hay Cổ Phong. 15

2. Cận Thể Hay Kim Thể. 15

3. Luật thi 16

4. Tuyệt cú. 18

5. Nhạc Phủ. 19

CHƯƠNG III: NGUYÊN NHÂN SỰ HƯNG THỊNH CỦA THƠ ĐƯỜNG.. 21

1. Lòng trọng văn của vua chúa. 21

2. Việc dùng thơ trong khoa cử. 22

3. Sự hoàn thành các thể thơ mới 22

4. Sự phát triển của sinh hoạt trí thức và nghệ thuật 23

5. Sự thịnh vượng của tình trạng, chính trị, kinh tế xã hội: 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 26

GIỚI THIỆU

1. Lý do chọn đề tài.

Thơ ca nói chung, thơ đường nói riêng đã đi sâu vào lòng các dân tộc đông phương, không chỉ phổ biến tại nơi sinh ra nó, trung hoa. Nó còn có tầm ảnh hưởng rất lớn đến các quốc gia khác trong khu vực, trong đó có việt nam.

Trong hệ thống trường phổ thông từ trước đến nay nó đóng vai trò chủ chốt trong thể loại thơ ca, từ mầm non cho đến các bậc học cao hơn, bóng dáng thơ đường in đậm trong các sách giáo khoa, trong các cuộc thi cử. nó bình dị nên rất dễ đọc và thuộc.

Nhưng vì sao nó lại phổ biến như vậy? thi luật rất khắt khe nhưng tại sao nó lại được đón nhận một cách mạnh mẽ như vậy? và còn nhiều câu hỏi khác nữa mở ra mà khi còn ngồi trên ghế nhà trường, người thực hiện tiểu luận chưa có dip cũng như chưa đủ trình độ học hỏi và tìm tòi, thông qua môn học, người thực hiện học hỏi được nhiều điều và đó cũng là tiền đề kiến thức cơ bản để có thể nghiên cứu sâu xa hơn về thể loại thơ này.

Như vậy có hai lý do chính để người thực hiện chọn chủ đề này

Thứ nhất: tìm hiểu sự ra đời và diễn tiến của thơ đường, tại sao nó lại phát triển mạnh mẽ và ảnh hưởng lan rộng như vậy?

Thứ hai: do nhu cầu cá nhân muốn trau dồi thêm kiếm thức về thể loại thơ này?

2. Lịch sử vấn đề

Một trong những ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa trung hoa đến việt nam đó là chữ viết và văn chương,người việt chúng ta đón nhận một cách tinh hoa và có chọn lọc, thông minh trong phương cách cải tiến ngôn từ cũng như chữ nghĩa để nó gần gũi hơn với dân tộc, có thể nói nôm na là việt hóa, về chữ viết, chúng ta nhiều lần biến đổi, một sự biến đổi to lớn còn ảnh hưởng đến kho tàng nghệ thuật việt nam đó là chữ nôm, bên cạnh chữ viết, chúng ta cũng đón nhận những tinh hoa nghệ thuật trong lĩnh vực văn học khác, trong đó có thể loại thơ đường.

Đối với Việt Nam thơ Đường đã du nhập từ lâu, nhưng không mấy phát triển, vì trước đó nước ta có một nền văn minh truyền khẩu duy sử dụng tục ngữ ca dao để diễn tả tình cảm hay truyền đạt tư tưởng… Nhưng cũng không được phát triển theo lối thượng tầng (nghĩa là không có được tổ chức qui mô, cẩn thận và không có chữ viết để ghi lại nên đã mai một rất nhiều). Kể từ khi ông Hàn Thuyên biến cải luật thơ phú bên Trung Hoa nhất là luật của Thơ Đường thành ra luật cho thơ quốc âm của nước ta thì nền văn thi quốc âm của nước ta ngày càng phong phú. Sự phát triển thơ văn rộng khắp nước. Trong triều đình nhà vua lập hội thơ để cùng những sĩ phu làm thơ, ngâm vịnh (thời đại Lê Thánh Tông). Sau Hàn Thuyên thơ quốc âm còn được gọi là Hàn luật vì người ta cho rằng luật lệ thơ văn quốc âm do Hàn Thuyên sáng tạo. (có sách ghi rằng Hàn Luật không phải do ông Hàn Thuyên sáng tác mà đó chính là Đường Luật của Trung Hoa ông chỉ uyển chuyển ứng dụng vào việc làm thơ quốc âm mà thôi). Việc làm của ông thời đó đã gây lên một phong trào nên đời bấy giờ có nhiều người noi gương ông mà làm thi phú bằng quốc âm.

Theo sử chép ông Nguyễn Sĩ Cố là một nội thị học sĩ đời vua Trần Thái Tông (1258- 1278) và thiên chương học sĩ đời vua Trần Anh Tông (1293-1313). Ông làm thơ quốc âm rất hay, ông khôn khéo và khôi hài, người đương thời ví ông với Đông Phương Sóc. Một người khác mà sử đã đề cập đó là ông Chu An ( + 1370), ông là một bậc danh nho đời Trần hiệu Tiêu Ẩn. Đời vua Trần Minh Tông ông làm Quốc Tử Giám tu nghiệp coi việc giảng kinh cho thái tử, ông soạn sách “Từ thư thuyết ước”. Đến thời Dụ Tông ông dâng sớ xin chém bảy người nịnh thần (Thất trảm Sớ) vua không nghe. Ông xin từ quan.

Xin điểm qua một số công trình nghiên cứu có liên quan đến thơ đường ở trong nước cũng như nước ngoài.

1. Quốc Văn Trích Diễn ( Dương Quảng Hàm)

2. Việt Nam Văn Học Sử Yếu(Dương Quảng Hàm)

3. Đường Văn Thi Tập.

4. “Niêm Luật Đường Thi” của Đông Thiên Triết

3. Mục đích nghiên cứu

Có nhiều công trình nghiên cứu về thơ đường, tùy theo từng khuôn khổ khác nhau mà cho ra những công trình khác nhau, tuy nhiên do tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào một vấn đề hay lĩnh vực nào đó của thơ đường mà các tác giả chưa nêu được cái nhìn tổng quát cho người đọc “dễ nhơ” về thơ đường, tiểu luận này mục đích chính là truyền tải những thông tin tinh túy nhất về thơ đường một cách khoa học để người đọc dễ dàng khái quát được quá trình hình thành cũng như phát triển của thơ đường, qua đó hiểu được hơn tại sao nó lại được đón nhận một cách nồng nhiệt ở những nơi nó “ghé qua”.

ở góc độ tiểu luận, nó chỉ là một phần nhỏ trong kho tàng các công trình nghiên cứu, tuy nhiênđối với người thực hiện, qua quá trình làm, nó bổi bổ rất nhiều kiến thức bên cạnh những kiến thưc cơ bàn được học dưới ghế nhà trường phổ thông.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là thơ đường, một loại hình văn hóa nghệ thuật của trung hoa, đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn chương và cuộc sống hàng ngày của dân tộc ta.

Phạm vi nghiên cứu về không gian: là đất nước trung quốc và việt nam

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: là thời kỳ phong kiến “nhà đường”.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (nếu thành công)

Ý nghĩa khoa học: nếu thành công tài liệu này có thể là một giọt nước thêm vào trong một bể lớn các công trình nghiên cứu về thơ đường từ trước tới nay, nó góp cho người đọc một góc nhìn gần gũi và thực tế hơn trong quá trình nghiên cứu, bởi bó ngắn gọn và xúc tích.

Ý nghĩa thực tiễn: trong quá trình học tại các bậc học phổ thông nói riêng và công chúng nói chung, chúng ta chủ yếu được học về “nội dung các bài thơ” thông qua thể loại thơ đường, rất ít công trình hoặc sách có liên quan để cho có một cái nhìn tổng qua về thể loại thơ này, chúng ta chỉ biết nó hay, nó dễ nhớ chứ ít ai biết nó đựa vào “thi luât” nào để viết, để hình thành. Và do đó thông qua tiểu luận này, người đọc hiểu thêm về những giá trị đằng sau những nội dung vốn rất “thơ” kia.

6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Phương pháp nghiên cứu: bước đầu là sưu tầm dữ liệu, các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí và một số bài viết có liên qua đến văn học, thơ ca và đặc biệt là thơ đường.

Tùy vào mục đích nghiên cứu của từng chương, mục mà xác định các ưu tiên dữ liệu và tìm kiếm các mối liên quan đến những dữ liệu đó.

Sử dụng phương pháp hệ thống để thực hiện hóa các vấn đề đó. Đặc biệt là trong sắp xếp và lập đề cương sơ bộ và đề cương chi tiết.

Dùng thủ pháp so sánh của phương pháp loại hình để So sánh dữ liệu dựa trên các có liên quan.

7. Bồ cục của đề tài

Ngoài phần giới thiệu khái quát và một số nguyên tắc trong nghiên cứu khoa học, tiểu luận được chia làm 3 chương, sắp xếp theo trình tự diễn biến của loại hình “thơ đường”.

Chương I: dẫn đắt chúng ta trở về thới kỳ trước nhà đường để điểm lại các loại hình thơ ca thời đó, sau đó sẽ đưa chúng ta tiến đến “mốc” khởi đầu của thơ đường, và các giai đoạn phát triển của nó.

Chương II: trong chương này chúng ta sẽ hiểu thế nào là “thơ đường”? trong thơ đường có nhiều nguyên tắc riêng cho từng thể loại riêng, nếu tìm hiểu sơ qua chúng ta sẽ nhầm rằng, những nguyên tắc là chung chung cho tất cả các thể loại, tuy nhiên qua chương này chúng ta sẽ được biết thêm về những nguyên tắc cơ bản nhất trong từng thể loại

Chương III: chương này cho chúng ta biết tại sao “thơ đường” lại được đón nhận rộng rãi và phát triển hưng thịnh như vậy?


CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN CỦA THƠ ĐƯỜNG

Ðời Tống, Nghiêm Vũ, tác giả sách Thương Lan thi thoại, chia thơ Ðường làm năm thể là: Ðường sơ thể, Ðại lịch thể, Nguyên hòa thể và Vãn Ðường thể.

Ðời Minh, Cao Bỉnh, tác giả sách Ðường thi phẩm vận,sửa đổi đôi chút cách phân định của họ Nghiêm, chia thơ Ðường làm bốn giai đoạn là: Sơ Ðường, Thịnh Ðường, Trung Ðường và Vãn Ðường.

Lục Khản Như và Phùng Nguyên Quân chia toàn bộ Ðường Thi làm hai thời đại lớn: từ Sơ Dường đến thời Thiên Bảo gọi là thời đại Lý Bạch, từ sau thời Thiên Bảo đến thời Vãn Ðường gọi là thời đại Ðỗ Phủ. (Trung Quốc thi sử, quyển Trung, Cổ văn thư lục, Hongkong, tái bản 1964).

Tô Thuyết Lâm tái dụng ý kiến của Hồ Thích, tác giả sách Bạch thoại văn học sử, chia thơ Ðường làm năm thời kì:

1) Thời kì kế thừa tác phong cổ điển của các đời Tề, Lương;

2) Thời kì long thịnh của văn học lãng mạn.

3) Thời kì đản sinh của văn học tả thực;

4) Thời kì phát đạt của văn học duy mỹ;

5) Thời kì suy đồi của thơ Ðường.

Các luận giả đời sau phần nhiều đều theo cách phân chia của họ Cao, chỉ có ý kiến khác về niên đại cho từng thời kì.

(Cao Bính xếp Liễu Tông Nguyên, Hàn Dũ, Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị, Lý Hạ, Lư Ðồng, Mạnh Giao, Giả Ðảo vào thời Vãn Ðường. Hậu nhân thì xếp các nhà thơ này vào thời Trung Ðường)

Sơ Ðường bao quát thời gian từ năm đầu niên hiệu Vũ Ðức, đời Ðường Cao Tổ (618) đến năm đầu niên hiệu Khai Nguyên, đời Ðường Huyền Tông (713), gần một trăm năm. Thơ Ðường bắt đầu phát triển; hình thức và nội dung dần dần dần hình thành và sung thực. Cái di phong thời Lục triều tuy còn vương sót, nhưng rồi lần lần phai lạt, nhường chổ cho một phong khí mới, sẽ tạo nên sự hưng thịnh của thời Thịnh Ðường.

Thịnh Ðường bao quát thời gian từ năm đầu niên hiệu Khai Nguyên (713) đến năm đầu niên hiệu Ðại Lịch, đời Ðường Ðại Tông (766) chừng năm chục năm. Tình tự cuồng liệt, ý cảnh bao la, thể chế thuần thục, nghệ thuật kì diệu. Thơ Ðường đạt đến cực điểm xán lạn huy hoàng.

Trung Ðường bao quát thời gian từ năm đầu niên hiệu Ðại Lịch (766) đến năm thứ 9 niên hiệu Thái Hòa, đời Ðường Văn Tông (835), chừng 70 năm. Ðó là thời kì chuyển biến của thơ Ðường. Với thể chế hoàn toàn thành tựu, nội dung và kỹ xảo được chú trọng nhiều hơn cho được thêm thâm khắc, tinh tiến.

Vãn Ðường bao quát thời gian từ năm đầu Khai Thành, đời Ðường Văn Tông (836) đến năm thứ 2 niên hiệu Thiên Hựu, đời Ðường Chiêu Tuyên Ðế (905) chừng 70 năm. Thơ Ðường kết thúc ở đây. Một thể tài văn học khác được sáng chế trong thời trước, nay được lưu ý, tôn trọng hơn, để rồi sẽ phát đạt, hưng thịnh trong thời đại sau: đó tà từ.

1. Thời Sơ Ðường (618 – 713)

Trong gần một trăm năm của thời kỳ này. Trung Quốc sống trong cảnh thái bình, an lạc. Có một vài cuộc rối loạn do sự chấp chính của nữ nhân (Vũ hậu, Vi hậu, Thái Bình công chúa), Nhưng những vụ biến động này chỉ giới hạn trong chốn cung đình hay ở một vài địa phương và cũng chóng bình định. Vì vậy thơ làm trong thời kì này phần nhiều là những bài ca tụng cảnh đất nước thanh bình, tán dương thịnh đức của triều đại, có văn từ hoa mỹ diễm lệ, thừa tập di phong của thời Lục Triều. Phong khí này lan tràn cả trong những tác phẩm ngoài loại ứng chế. Mãi đến Trần Tử Ngang, mới mở đầu một phong trào chống đối, gọi là Phản động phái.

Ðầu thời Sơ Ðường, phát khởi hai khuynh hướng thi ca, mà rồi đây ta sẽ thấy bành trướng mạnh trong thời Thịnh Ðường: Biên tái và Ðiền viên. Biên tái là loại thơ tả cănh sắc biên thùy và tâm tình của người lính thú. Những bài đầu tiên thuộc loại này như Tòng Quân Hành của Ngu Thế Nam. Thuật Hoài của Ngụy Trung, đều khơi nguồn cảm hứng từ những cuộc chinh chiến vào khoảngcuối đời Tùy. Ðiền viên là loại thơ tả cuọc sống nông thôn đạm bạc, chất phác cùng những lạc thú thiên nhiên của nhàn nhân dật sĩ. Thủy tổ của loại thơ này là Ðào Uyên Minh đời Tấn, Thời Sơ Ðường, Vương Tích nối gót họ Ðào, làm ra nhiều bài như Quá Tửu gia, Dã vọng … có lời chân phác tự nhiên, không điêu trác hoa mỹ.

Nổi trội nhất trong số những nhà thơ diễm thể của thời kỳ này là Sơ Ðường tứ kiệt: Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân và Lạc tân Vương.Thơ của các nhà này tuy đã sát với sinh hoạt thực tế, nhưng vẫn còn có vẽ phù diễm, Ðỗ Phủ nhận định:

Vương Dương Lư Lạc đương thời thể,

Khinh bạc văn chương thẩn vị hưu.

Nhĩ tào thân dữ danh câu diệt,

Bất phế giang hà vạn cổ lưu

(Hý vi lục tuyệt cú)

Vương, Dương, Dư, Lạc thể đương thời,

Văn chương khinh bạc cười không ngơi.

Các người thân với danh đều mất;

Còn mãi, giang hà muôn thửa trôi.

Sau Tứ Kiệt, hai nhà thơ có uy quyền trên thi đàn là Thẩm Thuyên Kỳ và Tống Chi Vấn “Từ thời Kiến Anh đời Ngụy cho đến thời Giang Tả (Ðông Tấn), luật thơ biến thiên nhiều lần, Thẩm Ước, Dữu Tín dùng âm vận phụ thêm, làmcho đối ngẫu tinh mật. Ðến Thẫm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vân, thơ càng mỹ lệ, tránh các thanh bệnh, đặt câu, làm bài như cẩm tú thành văn. Học giả suy tôn, gọi là Thẩm Tống.” (Ðường thư văn nghệ truyện). Hai nhà này được coi là có công đầu trong việc hoàn thành thể luật thi. “Thơ ngũ ngôn đến Thẩm Tống, mới có thể gọi là luật.” (Vương Thế Trinh).

Cùng nổi tiếng đương thời là văn chương tứ hữu (bốn bạn văn chương): Tô Vị Ðạo, Lý Kiều, Thôi Dung và Ðỗ Thẩm Ngôn. Lý Kiều được Ðường Huyền Tông khen là “Chân tài tử”, nổi danh với Tô Vị Ðạo; người đời xưng là Tô Lý, liên tưởng đến cặp Tô Vũ, Lý Lăng đời Hán. Ðỗ Thẩm Ngôn là tổ phụ của Ðỗ Phủ; tính tình và tác phẩm đều có ảnh hưởng đến vị thi thánh sau này. Rồi đến Ngô trung tứ sĩ (bốn người học trò đất Ngô) là: Hạ Tri Chương, Bao Dung, Trương Húc và Trương Nhược Hư. Bài: “Xuân Giang hoa nguyệt dạ” của Trương Nhược Hư và bài “Bạch đầu ông vịnh” của Lưu Hy Di là hai bài trường thiên đặc sắc của thời Sơ Ðường.

Tất cả những bài thơ kể trên không ít thì nhiều đều kế tục di phong phù mỹ của thời Lục triều, nên được xếp vào phái thơ gọi là Ỷ mỹ phái.

Những nhà thơ chống lại quan niệm của phái Ỷ mỹ được xếp vào phái thơ gọi là Phản Ðộng phái. Chủ trương của phái này là cải biến tác phong các đời Tê Lương, khôi phục phong cách đời Hán Ngụy. Lãnh tụ là Trần Tử Ngang. Trong bài tựa thiên Tu trúc của Ðông Phương Cầu, ông viết: “Cái tệ của văn chương kéo dài đã trăm năm rồi. Các đời Tấn Tống tuy không truyền dược phong cốt đời Hán Ngụy, nhưng văn hiến còn có chổ chứng minh được. Lúc nhàn rỗi tôi thường xem thơ làm trong các đời Tề Lương, thấy rằng vẽ mỹ lệ thì nhiều mà hứng ký thác thì ít, cho nên thường thở than. Trộm nghĩ đến cố nhân, tôi thường sợ phong khí chậm chạp, suy đồi, phong nhã không dấy lên được, vì thế trong lòng lo lắng không yên”. Trần Tử Ngang rồi Trương Cửu Linh làm những bài thơ có nhan đề là “Cảm Ngộ”, chú trọng đến ý cảnh hơn là văn từ.

Thời Sơ Ðường, ngoài hai phái thơ nghiêm chỉnh trên, còn có những nhà chuyên làm thơ bạch thoại có tính cách khôi hài, thông tục, gọi là “thơ đả du”. Nổi tiếng nhất là Vương Phạm Chí và các vị tăng Hàn San, Phong Can, Thập Ðắc. Tuy phổ biến dể dàng, các bài thơ bạch thoại không được người đời coi trọng.

2. Thời Thịnh Ðường (713- 766)

Có thể gọi thời Thịnh Ðường là thời Ðường Minh Hoàng, vì có liên hệ mất thiết với vị vua này. Cuộc khởi loạn của An Lộc Sơn (năm 755) là cái mốc phân chia thời này ra làm hai giai đoạn: thái bình và tán loạn.

Trước loạn An Lộc Sơn, là thời những bài thơ chứa đầy tình, nhạc và rượu. Cũng có những bài thơ tả tình quan ái và niềm khuê oán. Nhưng đó là tình cảm hào hùng của người chinh phu tuy biết “từ xưa chinh chiến mấy ai về” nhưng vẫn quyết “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”; đó là nổi nhớ nhung, sầu muộn của người cô phụ “lúc ngoảnh lại trông màu dương liễu”, tuy có tê tái nhưng không bi thảm. Từ cuộc loạnấy về sau, thi ca phản ánh một xã hội điêu tàn, thống khổ. Chiến địa không còn là cảnh hùng tráng đầy thi vị, mà là nơi ma than, quỉ khóc, xương trắng tả tơi. Những người lính thú bạc đầu nơi quan ải, những thiếu nữ thành ra cô phụ sau tối tân hôn, những ngườichồng phải gửi vợ nơi quê người, đất khách, và những người cha tủi hổ vì bất lực trước cảnh con thơ chết đói. Các bài như Tam Lại, Tam Biệt của Ðỗ Phủ cực tả cảnh chiến tranh tàn khốc, xã hội tối tăm, nhân dân đồ thán trong thời kì này.

Thơ thời Thịnh Ðường có thể xếp thành ba phái chính: Phái Biên Tái, phái Ðiền Viên và phái Xã Hội.

Phái Biên tái có nguồn gốc xa xôi là Hoành súy khúc từ thời Lương. Ðến thời này, loại thơ Biên tái tăng tiến về cả hai mặt lượng và phẩm. Có những người chỉ cảm động về tình chinh phu, cô phụ, tưởng tượng ra cảnh quan ải biên thùy, rồi làm thơ. Ðó là trường hợp những bài như: Lương Châu Từ của Vương Hàn. Xuất Tái của Vương Chi Hoán, Vương Xương Linh, Tái Hạ Khúc, Tái Thượng Khúc của Lý Bạch …Nhưng cũng có những nhà thơ thực sống trong chốn nhung mạc, từng trãi miền sông núi biên cương, như Cao Thích, Sầm Than …Chinh Phụ Ngâm Khúc của Ðặng Trần Côn mượn rất nhiều ý và lời trong thơ biên tái thời Thịnh Ðường.

Phái Ðiền Viên bắt nguồn từ thơ Ðào Uyên Minh thời Tấn. Vườn thông, giậu cúc và vò rượu của quan tể huyện Bành Trạch được nhiều văn nhân thi sĩ đời Ðường coi là ý nghĩ cao cả trong cuộc đời, là cảm hứng bất tận của thi ca. Trong thời kì này, phái Diền viên có những tác giả hữu danh như nhà ẩn sĩ phong lưu: Mạnh Hạo Nhiên, vị thi Phật Vương Duy với những bài thơ đầy điệu nhạc, ý họa, và vị Thi Tiên Lý bạch phóng khoáng hồn nhiên.

Lý Bạch là nhà thơ vĩ đại nhất thời Thịnh Ðường, trước loạn Thiên Bảo. Ý cảnh trong thơ ông cực kỳ bao la, rộng rãi. Tác phong gồm đủ mọi tính cách: hùng tráng, phiêu dật, trầm uất, cuồng phóng, diễm lệ, thanh u … Lời thơ buông thả tự nhiên, không có gò bó bởi cách luật, không điêu trác về kỹ xảo. Người ta yêu thơ Lý Bạch không những vì tác phẩm mà còn vì cuộc đời: tính khinh thế ngạo vật, tình nồng nhiệt đậm đà, và cái chết ôm trăng tuy khó tin nhưng chứa chan thi vị. Lý Bạch có hoài bão của một vị hiệp khách băn khoăn cứu khốn phò nguy, lại vừa có khát vọng của một đạo gia muốn siêu trần thoát tục. Tính chất nữa tiên nữa tục ấy chính là đặc điểm của thơ họ Lý. Thời Vãn Ðường, Bì Nhật Hưu nói rằng: “Từ khi nhà Ðường lập nghiệp tới giờ, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỉ thần, đọc xong thì thần ruổi tám cực, nghĩ rồi thì lòng ôm bốn bể; lỗi lạc dị thường, không phải là lời của thế gian, thì có thơ của Lý Bạch.”

Phái Xã Hội phát sinh do sự thúc bách của hoàncảnh hồi hậu bán thời Thịnh Ðường. Cuộc loạn Thiên-Bảo làm cho những người có cao vọng thần tiên cũng phải băn khoăn về trần tục, và những ẩn sĩ Chung Nam thắc mắc về những chuyện đời. Ðại biểu của phái Xã hội là thi thánh Ðỗ Phủ, tề danh vời thi tiên Lý Bạch. Thơ Hàn Dũ có câu: “Lý Ðỗ văn chương tại, Quang diễm vạn trượng trường” (Văn chương Lý Ðỗ còn, Ánh sáng dài muôn trượng). Lý Ðõ là hai bạn thân, nhưng tác phong hoàn toàn khác nhau. Lý Bạch măc cho cảm hứng phát xuất tự nhiên, còn Ðỗ Phủ thì dụng công điêu luyện. Thơ của họ Lý có tình cảm lãng mạn của một tài tử an mệnh, lạc thiên; thơ họ Ðỗ mang đậm tính chất hiện thực, phô bày sinh hoạt thực tế của nhân loại, diễn tả tâm tư thâm mật của con người. Thơ Lý Bạch khiến ngưới ta nhẹ nhàng “phơi phới như mọc cánh, lên tiên”; thơ Ðỗ Phủ đầy vẽ đầy đủ thảm trạng xã hội, khiến người ta không khỏi bùi ngùi, ngao ngán. Lý Bạch nói lên niềm khát vọng siêu thoát, Ðỗ Phủ bày ra mối hệ lụy nhân sinh. Lý Bạch xa ta: muốn theo, không được; Ðỗ Phủ gần ta: muốn dứt, không xong. Với tính cách nhân bản ấy, thơ Ðỗ Phủ càng đọc càng thấm thía, khi tuổi tác càng cao, kinh lịch càng nhiều. Trái lại, thơ Lý Bạch chỉ như một hớp rượu cay, say người nhưng chóng tỉnh, và khi tỉnh rồi, thì chỉ còn thoang thoảng hương vị thoáng qua. Nghệ thuật tác thi của Ðỗ Phủ rất tinh vi, xảo quyệt. Ông dùng hết mọi thể thơ, mà không thể nào không giỏi. Nhất là về lối thất ngôn luật thi, thì thi tài họ Ðỗ thật là không tiền, khoáng hậu. Học vấn rộng, kinh lịch nhiều, kỹ thuật tinh xảo, tình cảm cường liệt, tất cả những yếu tố ấy đặt ông lên địa vị “thi thánh” như lời suy tôn của Vương Thế Trinh đời Minh, và khiến ông xứng danh “tình thánh” như Lương Khải Siêu đã dâng tặng. Nguyên Chẩn thời Trung Ðường nói rằng: “Hết được mọi thể chế hôm nay, gồm được những cái độc chuyên của mọi người… Từ khi có thi nhân đến giờ, không ai bằng Tử Mỹ”. Trong những thi phẩm Trung Quốc được ngoại nhân phiên dịch, thơ Ðỗ Phủ chiếm đa số; thậm chí có cả kẻ ngụy tạo Ðỗ thi.

Bài Hoàng Hạc lâu, được coi là thiên cổ tuyệt xướng, là tác phẩm của Thôi Hiệu, người đồng thời với Lý Bạch.

3. Thời Trung Ðường (766 -835)

Sau khi loạn An Lộc Sơn, Sử Tư Minh đã bình, tình hình vẫn còn phân loạn. Phiên trân cát cứ, Hồi-ngột, Thổ-phồn quấy nhiễu, triều đìhn thối nát, loạn quan lộng quyền, đó là những nguyên nhân khiến xã hội bất an, nhân dân cực khổ. Tình trạng thi ca kém hẳn thời trước. Các nhà thơ chỉ quanh quẩn trong phạm vi cũ, không có gì mới mẻ đáng làm vinh diệu cho thi đàn, Nổi bật hơn cả là Bạch Cư Dị.

Trong thời Ðại-Lịch (766-779), đời Ðường Ðại-tông, có mười thi sĩ gọi là Ðại-Lịch thập tài tử: Lư Luân, Cát Trung Phu, Hán Hoằng, Tiền Khởi, Tư Không Thự, Miêu Phát, Thôi Ðồng, Cảnh Vi, Hạ Hầu Thẩm và Lý Ðoan. Nổi tiếng hơn cả là Lư Luân, Tư Không Thự và Lý Ðoan với những bài thơ tống biệt làm theo thể ngũ ngôn luật thi.

Ngoài ra Lý Ích, Cố Huống cũng là những nhà thơ nổi danh đương thời.

Ðến thời Nguyên Hòa (806 820) đời Ðường Hiển Tông, và thời Trường Khánh (812 824) đời Ðường Mục Tông, xuất hiện thi hào Bạch Cư Dị thuộc phái thơ Xã hội của Ðỗ Phủ, chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh. Trong tờ Dữ Nguyên Cửu thư, Bạch Cư Dị có nhận định sau: “Trong khoảng hai trăm năm nhà Đường hưng khởi, thi nhân nhiều không kể xiết. Những tác phẩm đáng nêu ra là 20 bài thơ Cảm ngộ của Trần Tử Ngang và 15 bài thơ Cảm hứng của Bào Phòng. Người đời xưng Lý, Ðỗ là thi hào. Tác phẩm của họ Lý thực là tài, thực là khéo, người ta không theo kịp; nhưng tìm những chổ phong, nhã, tỷ, hứng, thì trong mười phần không có được một phần. Thơ họ Ðỗ rất nhiều, đáng lưu luyến có hơn môt ngàn bài, thông quán cổ kim, tường tận cách luật, còn hơn họ Lý. Nhưng kiếm những bài thơ như Tân An lại, Thạch Hào lại, Ðông Quan lại, Tái lư tử, Lưu hao môn, và những câu như: “Chu môn tửu nhục xú, Lộ hữu đống tử cốt”, thì trong mười phần không có được hơn ba, bốn phần. Họ Ðỗ còn như thế, huống hồ những người không bằng ông ?”. Bạch Cư Dị muốn trở về với những tác phong phúng dụ, ý nghĩa khuyến gián mà Nho gia thường gán cho Kinh Thi, và vì chủ đích ấy, ông thích làm những bài dùng chữ thông tục, dễ hiểu, có thể gọi là thơ bạch thoại của đương thời. Với những bài Tân nhạc-phủ và Tần trung ngâm, Bạch Cư Dị là lãnh tụ của phái thơ Xã hội thời Trung Ðường. Ngoài những bài thuộc loại phúng dụ đó ra, những bài thuộc các loại nhàn thích, cảm thương và tạp lục của ông cũng có nhiều bài có giá trị. Nhưng trái với ý muốn của tác giả, phổ biến nhất và nổi tiếng nhất lại là những bài thơ trường thiên trữ tình: Trường Hận Ca tả mối diễm tình bi thảm của Ðường Minh Hoàng với Dương Quí Phi, và Tỳ Bà Hành nói lên tâm sự người thương phụ ở bến Tầm Dương.

Cùng chủ trương sáng tác và tề dang với Bạch Cư Dị, là Nguyên Chẩn. Người đương thời gọi hai ông là Nguyên Bạch, và những bài thơ bình dị của hai nhà này là Nguyên Hòa thể.

Lưu Vũ Tích là bạn thơ của Nguyên Bạch, nổi tiếng về những bài hoài cổ từ điệu uyển chuyển, thanh tân.

Phái Ðiền viên có các đại biểu là Vi Ứng Vật, Lưu Trường Khanh và Liễu Tông Nguyên, với những tác phẩm nhã đạm nhàn viễn, thanh dật chịu ảnh hưởng của Ðào Uyên Minh.

Thời Trung Ðường mở thêm cảnh giới thi ca khác: đó là Quái Ðản phái. Các nhà thơ phái này ưa chuộng sự kỳ dị, hiểm tích trong việc đặt câu, dùng chữ, gieo vần. Lãnh tụ phái Quái đản này là Hàn Dũ, cũng chính là nhà đại văn hào phản đối biền lệ, vận động phục cổ. Châu tuần các vì sao Bắc Ðẩu này, có Mạnh Giao “Khổ ngâm”, Giả Ðảo “Thôi xao” và Lý Hạ được tiếng “Quỉ tài”.

Cuối cùng phải nhắc đến một bài thơ nhiều người truyền tụng: Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế, Tiết Phụ Ngâm của Trương Tịch, Ðề Tích Sở Kiến Xứ của Thôi Hộ và Kim Lũ Y của Ðỗ Thu Nương. Ðỗ Thu Nương là một nữ lưu nhân vật, nổi danh tài sắc một thời: “Ả Thu Nương ghen lúc điểm tô” (Tỳ Bà Hành).

4. Thời Vãn Ðường (836 – 905)

Tình trạng, chính trị, kinh tế, xã hội càng ngày càng suy đồi. Quan lại tham nhũng, thuế má nặng nề, thưởng phạt bất công,những nguyên nhân ấy đưa đến loạnVương Tiên Chi (874) rồi loạn Hoàng Sào hơn trong 10 năm, làm sụp đổi nhà Ðường. Lịch sử tái diễn cảnh hổn độn khoảngcuối đời Tùy, văn học trở lại duy mỹ lúc Ðường Sơ. Trước kia có phái Ỷ mỹ, bây giờ có phái Chi Phấn, tràn ngập phong khí hoa diễm lãng mạn.

Ba nhà thơ nổi trội nhất thời này là: Lý Thương Ẩn, Ðỗ Mục và Ôn Ðình Quân.

Lý Thương Ẩn là tác giả những bài thơ tượng trưng, tả những nối tình u uẩn, có nhan đề là “Vô Ðề”. Ông rất tài tình trong khi sử dụng thể thơ thất ngôn luật thi, khiến ta liên tưởng đến Ðỗ Phủ thời Thịnh Ðường.

Ðỗ Mục thì sở trường về thể thất ngôn tuyệt cú, tề danh với Lý Thương Ẩn, kết thành cặp Lý Ðỗ của thời Vãn Ðường. Người đời gọi ông là Tiểu Ðỗ, để phân biệt với Ðỗ Phủ là Lão Ðỗ.

Ôn Ðình Quân cũng nổi tiếng ngang với Lý Thương Ẩn; người đời gọi là Ôn Lý. Ông là vị “Khai sơn đại sư” của lối từ trường đoản cú; chính nhờ từ ông mà từ mới tách khỏi thi để trở thành một thể riêng biệt.

Phái thơ này có những tác giả khác như: Hàn Ác, Ngô Dung, Bì Nhật Hưu, Lục Qui Mông ….nhưng tác phẩm ít và không mấy giá trị.

Ngoài ra,có Tư Không Ðồ, Trịnh Cốc, Hứa Hồn, Lý Quần Ngọc, Triệu Hỗ, Chu Khánh Dư, Tào Ðường, Trần Ðào Vi Trang, là tác giả của một số bài đáng kể.

Nhà thơ Xã hội Vi Trang nổi tiếng về bài Tần Phụ Ngâm, dài 1600 chữ, tả cuộc binh loạn Hoàng Sào.Tiếp theo là Ôn Ðình Quân, ông là từ gia vĩ đại của thời Ðường.

Nhà thơ thần tiên Tào Ðường với những bài Thiên Thai, đem lại cho thi ca thời này một sắc thái mới.

Thời Vãn Ðường có hai nữ thi nhân là Ngư Huyền Cơ và Tiết Ðào. Ngư Huyền Cơ trước làm danh kỹ sau làm đạo sĩ. Tiết Ðào rất quen thuộc với chúng ta, với hình ảnh “lá gió, cành chim”

Về thơ Bạch thoại, thời này có mấy nhà nổi tiếng là La Ẩn, Ðỗ Tuân Hạc và Hồ Tăng.

Hết thời Vãn Ðường, thi tạm coi là kết thúc, nhường chổ cho thể từ trường đoản cú, phát triển trong thời Ngũ Ðại rồi hưng thịnh trong đời Tống.


CHƯƠNG II: CÁC THỂ THƠ TRONG ÐƯỜNG THI

Ðường Thi Tam Bách Thủ (Ba trăm bài thơ Ðường) là cuốn hợp tuyển gồm những được cho là tiêu biểu của thi ca đời Ðường. Ta có thể căn cứ vào sự phân loại trong sách này, lấy thể thơ làm tiêu chuẩn, chia thơ Ðường ra làm sáu loại sau: ngũ ngôn cổ thi, thất ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật thi, thất ngôn luật thi, ngũ ngôn tuyệt cú, thất ngôn tuyệt cú. Trong mỗi loại, ở phần dưới, là những bài nhạc-phủ làm theo thể thơ thuộc loại ấy.

1. Cổ Thể Hay Cổ Phong

Thể thơ này không có luật lệ nhất định. Không hạn định số câu. Cách gieo vần rất rộng rãi, uyển chuyển. Có thể dùng độc vận (một vần), liên vận (nhiều vần) hay không hiệp vận. Vận chính là các vận thuộc cùng một vận bộ. Vận thông là các vận thuộc hai vận bộ khác nhau, có âm thanh tương tự. Vận chuyển là những vận có âm vốn không giống nhau. Ngoài ra, thể này không phải theo niêm, luật, cũng không bắt buộc phải có đối ngẫu.

Những bài thơ làm theo thể này gọi là cổ thi, bắt đầu xuất hiện vào đời Hán. Có ngũ ngôn cổ thi và thất ngôn cổ thi; trong đó có thể xen những câu dài hoặc ngắn hơn. Trước kia người ta cho rằng thể ngũ ngôn cổ thi khởi đầu từ các bài Hà Lương tặng đáp của Tô Vũ và Lý Lăng. Thực ra những bài này là ngụy tác của người đời sau. Một thuyết khác cho rằng Cổ thi thập cửu thủ (Mười chín bài cổ thi) do Mai Thặng đời Hán Vũ Đế làm ra những bài cổ thi đầu tiên. Hiện nay người ta công nhận thuyết ấy, nhưng nghi ngờ những bài này đều không phải là của Mai Thặng, mà có lẽ là tác phẩm của nhiều người. Còn thể thất ngôn cổ thi, cho đến nay người ta vẫn cho rằng khởi đầu từ bài thơ Bách Lương làm theo lối liên cú đời Hán Vũ Đế. Sử chép rằng năm thứ 3 niên hiệu Nguyên Phong (108 trước Công nguyên), vua Hán Vũ Đế xây đài Bách Lương, rồi xuống chiếu cho quần thần làm thơ thất ngôn, hễ ai làm được thì được lên ngồi trên đài này.

2. Cận Thể Hay Kim Thể

Người đời Ðường gọi lối thơ tuyệt cú và lối thơ luật là cận thể hay kim thể, để phân biệt cổ thể hay cổ phong nói trên. Thơ cận thể thật ra đã xuất hiện trong đời Lục Triều, sau công trình biện biệt tứ thanh của nhóm Thẩm Ướt (Thẩm Ước là tác giả sách Tứ thanh phổ, người thời Vĩnh Minh (483-493), đời Tề), và việc phân định vận của nhóm Lục Pháp Ngôn (Lục Pháp Ngôn là tác giả sách Thiết vận, người đời Tùy Văn Đế (581-640).). Nhưng đến đời Ðường, mới có sự phân biệt rõ rệt thơ cổ với thơ cận thể.

3. Luật thi

Tiền Mộc Yêm, tác giả sách Ðường Ẩm Thẩm Thể nói rằng: “Luật đây là sáu luật, là luật hòa hợp âm thanh. Luật thơ cũng giống như kỷ luật dụng binh, pháp luật hình án, nghiêm ngặt chặt chẽ, không được vi phạm”. Có thể giải thích thêm về thể cách của thi như sau:

a) Trong một câu, bằng trắc cần phải điều tiết;

b) Trong khoảng hai câu liền nhau, sự đối ngẫu cần phải khéo;

c) Trong một bài, âm thanh cần phải chọn sao cho có sự cao thấp, bổng trầm.

Tóm lại, ba điều kiện cần thiết của luật thi là niêm, luật và đối.

Về đối ngẫu, Lưu Hiệp đời Lục Triều, tác giả sách Văn Tâm Ðiêu Long, đã phân biệt bốn cách là: Ngôn đối, Sự đối, Chính đối và Phản đối. Ngôn đối là đối bằng lời suông. Sự đối là đối bằng điển cố. Hai câu mỗi câu trình bày một sự việc nhưng nói lên cùng một ý, là chính đối. Nếu hai sự việc đó trái ngược nhau, thì gọi là phản đối. Sự đối và phản đối khó làm hơn và có giá trị hơn là ngôn đối và chính đối.

Ðến thời Sơ Ðường, Thượng Quan Nghi phân biệt sáu cách đối là:

1) Chính danh đối, như thiên địa đối với nhật nguyệt;

2) Ðồng loại đối, như hoa diệp đối với thảo mao;

3) Liên châu đối, như tiêu tiêu đối với hách hách;

4) Song thanh đối, như hoàng hòe đối với lục liễu;

5) Ðiệp vận đối, như bàng hoàng đối với phóng khoáng;

6) Song nghĩ đối, như xuân thụ đối với thu trì

theo sách Thi uyển loại cách.

Một bài luật thi hoàn chỉnh dùng vào việc ứng chế, ứng thí, có thể định nghĩa là một bài thơ tám câu hoăc năm chữ ngũ ngôn luật thi hoặc bảy chữ thất ngôn luật thi, phải theo những qui tắc nhất định về niêm, luật; bốn câu 3,4 và 5,6 phải đối nhau từng đôi một.

Tuy nhiên, người ta thấy rằng ngoại trừ khi ứng chế hoặc ứng thí, người đời Ðường thường dùng thể luật thi một cách uyển chuyển, rộng rãi.

Ngoài những bài có bốn câu giữa đối nhau, cũng có những bài hoặc hoặc tám câu toàn đối, hoặc sáu câu, hoặc hai câu đối nhau, không nhất định.

Về niêm, cũng có những bài không giữ đúng lệ (thất niêm).

Về luật, sự sử dụng “ảo cú” làm cho quy tắc bớt chặt chẽ, câu thơ có âm điệu biến đổi bất thường. Ảo cú là câu thơ trong đó có chữ đáng bằng đổi thành trắc, hay đáng trắc đổi ra bằng, không theo cách thường. Thí dụ:

Ngã ký sầu tâm dữ minh nguyệt,

Tùy quân trực đáo Dạ Lang tây.

(Lý Bạch)

Lòng sầu ta gởi cùng trăng sáng,

Theo gót người đi đến Dạ Lang.

Ánh giai bích thảo tự xuân sắc,

Cách diệp hoàng ly không hảo âm.

(Ðỗ Phủ)

Soi thềm, cỏ biếc còn tươi thắm;

Cánh lá, oanh vàng vẫn hót hay.

Về vận, bài luật thi bắt buộc phải dùng vận chính (không được dùng vận thông, vận chuyển), căn cứ vào cuốn qui định vận bộ do triều đình ban hành. Ðời Ðường Huyền Tông có cuốn “Vận Anh”, cải biên theo cuốn “Thiết Vận” của Lục Pháp Ngôn đời Tùy, rồi cuốn “Ðường Vận” của Tôn Miễn, bổ khuyết sách trên.

Về việc dàn ý, bài luật thi vốn có bố cục như sau: các câu 1, 2 là khởi (khai), các câu 3, 4 là thừa, các câu 5, 6 là chuyển, các câu 7, 8 là hợp (hạp). Ngoài các câu đầu và kết ra, trong những câu giữa, muốn nói gì cũng được, không có lệ nhất định. Chỉ trong những khoa thi về sau, bài luật thi mới có bố cục chật hẹp (phá, thừa, thực, luận, kết).

Khoảng đời Thanh, Kim Thánh Thán phê bình luật thi đời Ðường, có đề xướng cách “phân giải” như sau:

8 câu chia làm 2 giải: 4 câu đầu gọi là tiền giải, 4 câu sau gọi là hậu giải. “Hai câu 3, 4 chuyên thừa cho hai câu 1, 2, mà các câu 1, 2 thì có dụng ý cao trội hơn và còn nghiêm ngặt hơn, so với các câu 3, 4; hai câu 5, 6 chuyển xuống thành hai câu 7, 8, mà các câu 7, 8 thì hàm sâu xa hơn và còn mật thiết hơn, so với các câu 5, 6. Ðâu có thể lấy hai chữ “khởi”, “kết” mà bôi bỏ đi hết bao nhiêu tâm huyết của cổ nhân!” (Kim Thánh Thán tuyển phê Ðỗ thi)

4. Tuyệt cú

Trong dân ca đời Lục Triều, đã thấy những bài bốn câu năm chữ hoặc bảy chữ. Các nhà thơ mới phỏng theo đó mà làm ra những bài bốn câu ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn. Ðến đời Ðường, lối thơ bốn câu này rất thịnh hành và được gọi là “tuyệt cú”. Sau khi có luật thi, lối tuyệt cú vô hình trung đồng hóa trong thể thơ này. Vì thế người ta thường ngộ nhận tuyệt cú là bài thơ do sự cắt bài luật thi mà thành. “Tứ nghĩa là bốn; tuyệt nghĩa là dứt, ngắt. Lối này gọi thế vì thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong bài thơ bát cú mà thành”. (Dương Quảng Hàm, Văn học Việt-Nam). Do đó thơ tuyệt cú cũng phải tuân theo nhưng quy tắc về niêm, luật, vận như luật thi, và cũng có hai thể ngũ ngôn và thất ngôn.

Chính vì sự mơ hồ trong vấn đề nguồn gốc của lối thơ tuyệt cú mà phát sinh ra một cách cắt nghĩa khác về chữ “tuyệt”: “Tuyệt là tuyệt diệu, mỗi câu chiếm một địa vị đặc biệt. Chỉ trong bốn câu mà thiển thâm, ẩn hiện, chính kỳ, phục khởi đủ cả, cho nên gọi là tuyệt.” (Bùi Kỷ, Quốc văn cụ thể).

Trong một bài tuyệt cú, câu 1 là khởi, câu 2 là thừa, câu 3 là chuyển, câu 4 là hợp. Bài Khuê oán của Vương Xương Linh là thí dụ điển hình của bố cục thơ này.

Khi làm thơ tuyệt cú, các nhà thơ đời Ðường cũng có thái độ như khi làm luật thi, nghĩa là không chịu sự câu thúc chặt chẽ của quy tắc.

Tóm lại, lối thơ cận thể với trật tự cẩn nghiêm, tề chỉnh, nói lên ảnh hưởng của Nho giáo, là một thành công lớn của người đời Ðường và là một bước tiến quan trọng của thi ca Trung Quốc.

5. Nhạc Phủ

Nhạc phủ là một loại thơ làm theo nhiều thể khác nhau và có công dụng trong ca nhạc. Ðời Ðường, nhạc phủ gồm có những bài thơ cổ phong, luật thi và nhất là tuyệt cú. Vương Thế Trinh đời Thanh nói rằng: “Thơ tuyệt cú của ba trăm năm đời Ðường chính là nhạc phủ của ba trăm năm đời Ðường”.

Những bài thơ dùng trong ca nhạc đã có từ lâu, từ thời của Kinh thi và có thể trước nữa. Nhưng chỉ từ đời Hán Vũ Đế, danh từ “nhạc phủ” mới được dùng để chỉ thể thơ. Ðời Hán Huệ-đế, nhà vua thiết lập một cơ quan gọi là Nhạc phủ lệnh. Ðến đời Hán Vũ Đế (140- 86 trước Công nguyên), Nhạc phủ có qui mô mở rộng hơn, với Lý Diên Niên làm chức Hiệp luật đô úy. Từ đó trở đi, Nhạc phủ được dùng để chỉ loại thơ có thể hợp nhạc, và trở nên một thể thơ. Cuối đời Ðông Hán, vào thời Kiến An (196-220), ba cha con họ Tào (Tào Tháo, Tào Phi Tào Thực) làm ra nhiều bài nhạc phủ cổ áo, bi tráng, nổi tiếng một thời. Ðến thời Nam Bắc triều, các điệu nhạc mới của ngoại quốc du nhập nhiều. Nhạc phủ xưa không còn hợp với âm luật mới nữa; nhưng vẫn còn nhiều nhà thơ dựa theo những bài nhạc phủ cũ để làm ra những bài mới, tuy gọi là nhạc phủ, song thực ra không còn được dùng trong ca nhạc.

Xét về nhạc phủ đời Ðường, ta thấy có thể chia ra làm bốn loại sau:

1) Những bài ca giao miếu, giống như Tụng trong Kinh Thi, không có giá trị về mặt văn chương. Thí dụ: bài Phong Thái sơn nhạc của Trương Thuyết.

2) Những bài thơ làm theo đề mục cũ của nhạc phủ, tuy có hay về mặt văn chương, nhưng không còn được dùng trong ca nhạc. Thí dụ: các bài Tương tiến tửu, Quan san nguyệt của Lý Bạch.

3) Những bài tân nhạc phủ có ý phúng dụ giống phong cách đời xưa, cũng không thể hợp nhạc. Thí dụ: 50 bài Tân nhạc phủ của Bạch Cư Dị.

4) Những bài thơ nổi tiếng được các linh quan của Lê viên phổ nhạc. Loại này có giá trị nhất, vì đích thực là nhạc phủ, lại vừa là kiệt tác xét về mặt văn chương. Ðó là những bài thơ tuyệt cú của Vương Chi Hoán, Vương Xương Linh, Vương Hàn, Cao Thích, Vương Duy …


CHƯƠNG III: NGUYÊN NHÂN SỰ HƯNG THỊNH CỦA THƠ ĐƯỜNG

Tất cả các nhà phê bình văn học đều công nhận rằng đời Đường (618 – 907) là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc. Bộ Toàn Đường Thi ấn hành năm 1707 gồm 900 quyển, hợp thành 30 tập, chép 48.900 bài thơ của hơn 2.200 thi nhân đời Đường (Đời Tống, Kế Hữu Công sọan bộ Đường Thi kỷ sự, gồm 81 quyển, chép thơ của 1.150 tác giả. Đời Minh, Cao Bính soạn bộ Đường thi phẩm vựng, gồm 90 quyển, chép hơn 5.700 bài thơ của 620 tác giả, sau lại bổ sung hơn 900 bài của 61 tác giả, làm thành 10 quyển thập di. Năm thứ 44, niên hiệu Khang Hy, đời Thanh (1705), vua Thánh Tổ dùng bộ Đường ấn thống thiêm làm căn bản, đem Toàn Đường thi tập chứa trong nội phủ ra, sai soạn thành bộ Toàn Đường thi ấn hành vào năm 1707). Nếu đem số thơ này so với tổng số thơ làm ra trong bảy,tám trăm năm của tám đời (Đông Hán,, Ngụy, Tấn, Tề, Lương, Trần, Tùy), thì thấy nhiều gấp mấy lần. Nhưng đó chỉ là xét về lượng. Thực ra trong lịch sử thi ca Trung Quốc, thơ đời Đường sở dĩ được người ta chú ý đến nhất, yêu chuộng nhất, chính là vì thời ấy đã xuất hiện những nhà thơ vĩ đại, có khuynh hướng sáng tác khác nhau, và nghệ thuật đạt đến mức thuần thục, hoàn hảo, khiến cho thơ của những đời kế tiếp chỉ là những bài mô phỏng, những thi sĩ đời sau chỉ là những đệ tử truyền thuật, và hễ nói đến thơ Tàu,người ta hầu như chỉ nói đến thơ Đường.

Về thi ca, Đường là thời đại nổi trội đặc biệt, có thể nói là không tiền khoáng hậu. Nhưng cái gì đã tạo nên sự hưng thịnh của Đường Thi, đó là một vấn đề khó biện giải thỏa đáng. Vì thế mà các luận giả đành phải liệt kê ra một số sự kiện, coi đó là những nhân tố góp phần tạo lập nên sự hưng thịnh này.

1. Lòng trọng văn của vua chúa

Hầu hết các vua nhà Đường đều yêu chuộng thơ văn. Đường Thái Tông khi còn là Tần Vương, đã mở Văn học quán, làm nơi hội họp các văn nhân. Khi lên ngôi, lại thiết kế Hoàng văn quán, thâu thập hơn 20 vạn cuốn sách, rồi cùng nghiên cứu, thảo luận với 18 quan Bác sĩ, trong đó có Đỗ Như Hối, Phòng Huyền Linh, Khổng Dĩnh Đạt, Ngu Thế Nam. Sách Tân Đường thư chép rằng, Thái Tông thường làm những bài cung thể diễm thi, rồi sai Ngu Thế Nam họa. Ngu Thế Nam bèn tâu can rằng: “Tác phẩm của bệ hạ rất hay, nhưng thể không nhã chính. Hể bề trên ưa thích cái gì, thì kẽ dưới sẽ yêu thích nhiều hơn. Thần e rằng những bài thơ này một khi đã lưu truyền rồi, thiên hạ sẽ hùa theo mà làm”.

Những sách như Cổ Kim thi thoại, Tiểu thuyết cựu văn, Toàn Đường thi có chép một số giai thoại chứng tỏ Đường Thái Tông là một người rất yêu thơ. Khi Vũ hậu lâm triều, cũng từng xuống chiếu sưu tầm các sách thất lạc, để phát triển văn học. Đời Đường Trung Tông, vào ngày rằm tháng giêng hằng năm, nhà vua tổ chức ngày hội văn rất long trọng, quần thần đều phải dâng thơ chúc tụng. Đường Huyền Tông là một nhà thơ có tài, rất sủng bái Lý Bạch. Bạch Cư Dị được Hiến Tông phong làm chức học sĩ nhờ có bài thơ phúng giáng. Nguyên Chẩn được Mục Tông bổ làm Từ bộ lang trung cũng chỉ vì mấy bài ca. Văn Tông rất thích thơ ngũ ngôn, có đặt ra mười hai quan thi học sĩ. Tóm lại trong đời Đường, thi ca vì được vua chúa yêu chuộng, đã trở nên bậc thang đưa lên chổ vinh hoa, phú quí. Do đó, từ kinh thành cho đến đồng nội, núi rừng, người ta đua nhau đọc thơ, làm thơ, gây nên một phong trào thi ca bồng bột, mãnh liệt. Bị lôi cuốn trong trào lưu ấy, có người làm thơ vì mục đích giàu sang, nhưng cũng có người vì thực lòng yêu thơ; và chính tự nơi những người này, đã xuất hiện những thi nhân lỗi lạc.

2. Việc dùng thơ trong khoa cử

Đầu đời Đường, khoa thi tiến sĩ vẫn giữ thể thức của đời Tùy, chỉ hỏi về sách (kế hoạch). Đến năm thứ 2, niên hiệu Vĩnh Long (681), đời Đường Cao Tông, quan Khảo công viên ngoại lang Lưu Tư Lập tâu rằng:

– “Các tiến sĩ chỉ đọc các sách cũ, chứ không có thực tài”.

Vua bèn xuống chiếu, sửa đổi thể thức ra bài thi trong khoa thi tiến sĩ: thí sinh phải làm hai bài tạp văn (thi, phú) để tỏ ra thông hiểu âm luật, rồi sau mới thi sách. Thơ đã được vua chúa yêu thích, từ đây lại được dùng trong khoa cử. Người có tài thơ rất dễ có dịp tiến thân, lại có danh dự cao hơn những người chiếm ngôi cao bằng những đường lối khác. Từ thời Khai Nguyên, đời Đường Huyền Tông trở đi, khoa thi tiến sĩ được tôn trọng đặc biệt. Các danh sĩ phần nhiều trúng tuyển khoa này. Các quan công khanh nào mà không xuất thân tiến sĩ, đều không được xem là tôn quí. Xem thế có thể nói rằng đa số quan lại đời Đường đều là những người làm thơ, nếu không muốn nói là thi sĩ. Tuy nhiên cũng nên biết rằng hai thi hào Lý Bạch, Đỗ Phủ đều không đậu khoa thi này.

3. Sự hoàn thành các thể thơ mới

Trong văn học Trung Quốc, người ta phân biệt thi với phú. Những bài Kinh Thi mới gọi là thi, còn những bài trong Sở từ (trong đó có Ly tao) thì thuộc lãnh vực phú. Chí Ngu, tác giả sách Văn chương lưu biệt luận cho rằng tất cả những thể thơ có từ ba đến chín chữ đều bắt nguồn từ Kinh Thi. Nhưng thực ra tứ ngôn (4 chữ) mới là thể thơ chính của Kinh Thi. Đến đời Hán, mới xuất hiện thể ngũ ngôn và thất ngôn cổ phong. Đời Đường là thời kì hoàn thành một thể mới gọi là cận thể hay kim thể, phân biệt với cổ phong hay cổ thể nói trên bằng cách luật nghiêm ngặt, chặt chẽ. Thơ cận thể hoàn chỉnh ở đời Đường, tiếp tục thịnh hành trong các thời đại sau. Mãi đến hồi đầu thế kỷ này, với sự du nhập của văn hóa Tây phương và sự thay thế văn ngôn bằng bạch thoại, thì thể thơ này mới suy tàn, nhường chổ cho một thể thơ mới khác mà người Tàu gọi là tân thể thi.

4. Sự phát triển của sinh hoạt trí thức và nghệ thuật

Về mặt tư tưởng, đặc điểm của đời Đường là sự tịnh thịnh của ba giáo thuyết Nho, Đạo và Phật. Tình trạng này có ảnh hưởng đối với khuynh hướng sáng tác của thi nhân và đem lại hứng vị dị biệt cho tác phẩm.

Nho giáo được tôn sùng từ thời nhà Hán với Đổng Trọng Thư, nay lại càng hưng thịnh. Năm 619, Đường Cao Tổ lập miếu thờ Chu Công, Khổng Tử ở Quốc Tử học. Đường Thái Tông mở Văn học quán, cùng với 18 học sĩ trong đó có Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối, thảo luận về nghĩa kinh. Phong Khổng Tử làm tiên thánh, Nhan Tử làm tiên sư. Năm 647, lạ xuống chiếu cho Tả Khâu Minh, Bốc Tử Hạ … cả thảy 21 người được phối hưởng tại miếu Tuyên Ni; sai Khổng Dĩnh Đạt cùng một số nhà Nho soạn bộ Ngữ kinh chính nghĩa, gồm 170 quyển. Đó là bộ sách dùng trong khoa cử nhà Đường và Đời Tống. Loại thơ phúng thích xã hội như Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị đã thấm nhuần cái tinh thần bao biếm cũng nhu7 tư tưởng tích cực của Khổng Tử.

Trong các đời Tần Hán. Đạo gia có ảnh hưởng lớn. Đến đời Đường, hầu như trở thành quốc giáo. Năm 620, Đường Cao Tổ (Lý Uyên) tin thuyết của Cát Thiện, người Tấn Châu, tôn Lão Tử (Lý Nhĩ) làm tổ và lập miếu thờ. Năm 666, Cao tông truy tôn Lão Tử làm Huyền Nguyên Hoàng đế. Năm 741, Huyền Tông giáng chiếu lập miếu thờ Lão Tử ở hai kinh và các châu. Năm 743, truy tôn Lão Tử làm Đại Thánh Tổ Huyền Nguyên Hoàng đế. Vua lại tự chú thích Đạo Đức Kinh, coi là sách đứng đầu các kinh. Phong Trang Tử làm Nam Hoa chân nhân, và gọi tác phẩm của các nhà này là chân kinh. Sùng huyền quán được thiết lập, là nơi học sinh khảo cứu chân kinh để ứng thí. Đạo sĩ rất được tôn trọng, thụât luyện đan rất thịnh hành. Nhiều vương hầu, công chúa, quan chức,văn nhân là đệ tử của Đạo gia. Nhiều vua chết vì dùng đan dược, như Thái Tông, Hiến Tông (phát bệnh cuồng nộ, bị hoạn quan giết), Vũ Tông, Tuyên Tông. Số công chúa,các vương chết vì phục dược có đến mấy trăm người. Các văn nhân như Lư Chiếu Lân, Lý Kỳ, Lý Bạch, Sử Quang Huy, Bạch Cư Dị, Lục Qui Mông đều ưa thích đan dược. Cả đến Hàn Dũ bình sinh bài xích Lão Trang, mà cuối đời cũng vì dùng thuốc Đạo gia mà vong thân. Ảnh hưởng của Đạo giáo với thi ca rất lớn lao. Những bài thơ thần tiên của Lý Bạch, tự nhiên cùa Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên và duy mỹ của Lý Thương Ẩn là những tác phẩm tiêu biểu của loại thơ có màu sắc Đạo gia. Phật giáo du nhập vào Trung Quốc từ thời Đông Hán, và rất hoạt động trong thời Nam Bắc triều, nhưng đến đời Đường mới thật thịnh đạt. Trong thời Trinh Quán, Huyền Trang rời Trường An, theo đường bộ du hành tại Ấn Độ trong 14 năm (630 – 644), đi qua 128 nước, đem về 650 bộ kinh, rồi cùng các đệ tử phiên dịch. Đường Thái Tông đích thân làm bài Tam Tạng thánh giáo tự để tỏ lòng sủng ái. Đời Đường Cao Tông, Nghĩa Tỉnh vượt biển Nam Hải sang Ấn Độ, đi qua hơn 30 nước, đem về hơn 400 bộ kinh. Đời Hiến Tông, vua thân tự đón xương Phật để cầu phúc; vì can ngăn việc này, Hàn Dũ bị biếm. Đến đời Văn Tông, trong nước có đến hơn bốn vạn ngôi chùa và hơn bảy chục vạn tăng ni. Chỉ có đời Vũ Tông là đạo Phật bị bài xích. Năm 845, vua hạ chiếu hủy tượng, phá chùa. Nhưng đến các đời vua sau, Phật giáo lại hưng khởi. Tóm lại ở đời Đường, Phật giáo nhờ sự tôn sùng của vua chúa và công trình dịch kinh của chư tăng, đã lan rộng, thấm sâu trong các tầng lớp nhân dân. Trong số các thi nhân nổi tiếng Giả Đảo đã từng làm tăng, Vương Duy là nhân vật quan trọng trong Nam phái thiền tông. Tuy không có ảnh hưởng nhiều như Nho và Đạo, Phật giáo cũng đem lại cho thi ca đời Đường những sắc thái và ý tưởng đặc biệt.

Về hội họa, đời Đường có ba họa phái lớn với ba nhà nổi tiếng là: Vương Duy, Ngô Đạo Tử và Lý Tư Huấn. Vương Duy chuyên vẽ tranh sơn thủy, mở đầu cho phái họa Nam Tông. Trong cuốn học họa bí quyết, ông viết: “Trong đạo họa, phép về thủy mặc hơn hết. Hình ảnh trong gương tăng màu sắc nhân vật; hình ảnh dưới trăng là bức trăng thủy mặc. Hình ảnh sông núi dưới bóng trăng là địa lý trong thiên văn; hình ảnh trăng sao trên mặt nước là thiên văn trong địa lý”. Dưới ngọn bút của Vương Duy, thi và họa hòa đồng với nhau, phô bày vẽ đẹp: “Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi (Trong thơ có họa, trong họa có thơ). Ngô Đạo Tử và Lý Tư Huấn có khuynh hướng hội họa trái ngược nhau.

Truyện chép rằng, khi ở đất Thục lánh nạn An Lộc Sơn, Đường Huyền Tông có sai Ngô, Lý ve về phong cảnh xứ này. Ngô Đạo Tử ngồi trong điện Đại Đồng, chỉ trong một ngày đã vẽ xong cảnh vật miền sông Gia Lăng dài ba trăm dặm, vì chỉ chú ý đến những điểm nào gợi hứng nhất. Trái lại Lý Tư Huấn chủ trương mô phỏng thiên nhiên, đã để ra hàng tháng trời vẽ tỉ mỉ, cặn kẽ từng tảng đá, gợn sóng, ngọn cỏ lá cây. Cả hai bức tranh dâng lên, đều được Huyền Tông khen ngợi. Ngô Đạo Tử được người đời gọi là Họa Thánh; Lý Tư Huấn là tổ của họa phái Bắc Tông. Từ thời ấy trở đi, các họa sĩ Trung Quốc không nhiều thì ít, đều là môn đệ của hai nhà này.

Cùng với các ngành hội họa, nghề làm đồ sứ rất tiến bộ trong đời Đường. Cách trình bày rất mỹ thuật với đặc điểm là dùng ba màu: nền trắng, hình vẽ màu vàng hay lục.

Nghề in cũng rất cải tiến. Đời Hán người ta đã khắc kinh truyện trên những tấm bia. Người đời Đường nhân đó mới có ý nghĩa khắc chữ lên mặt đá, rồi bôi mực mà in: chữ trắng nổi bậc trên nền đen. Đến thời Đại Lịch, đời Đường Đại Tông (770), người ta dùng gổ thay đá để in Tứ Thư, Ngũ kinh, Phương pháp ấn loát này rất thông dụng trong các đời Đường Tống.

5. Sự thịnh vượng của tình trạng, chính trị, kinh tế xã hội:

Sách Cựu Đường thư chép rằng, năm thứ 8 niên hiệu Trinh Quán (634) trong tiệc yến tại cung Vị Ương, có Hiệt Lợi khả hãn của Đột Quyết múa và tù trưởng Nam Việt là Phùng Trí Đới vịnh thơ, Đường Cao Tổ cười nói: “Hồ Việt một nhà từ xưa chưa từng có cảnh tượng này”.

Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) biết dùng các hiền thần như Phùng Huyền Linh, Đỗ Như Hối,Ngụy Trưng và các võ tướng như Lý Tĩnh, Lý Tích làm cho đời Đường thành một thời đại hưng thịnh cả về văn trị lẫn võ công. Thi hành chế độ phủ binh, tạo nên một quân lục hùng hậu, khiến cương thổ mở rộng, uy thanh lan tràn đến nhiều nước khác. Quốc thế thịnh hơn cả đời Hán: ngoại quốc gọi người Tàu là “Đường nhân” (người Đường). Chế độ quân điền và phép tô dung địêu được ban hành, khiến cho nông nghiệp mở mang, công thương nghiệp phát triển. Trường an và Lạc Dương là hai trung tâm trọng yếu về thương mại và công nghệ. Xét chung thì như vậy; thực ra thì chỉ có thời Khai Nguyên, đời Đường Huyền Tông, là hoàn toàn thịnh trị, như thơ Đỗ Phủ nói: “Ức tích Khai Nguyên toàn thịnh nhật” (Nhớ ngày toàn thịnh thời Khai Nguyên). Sau đó từ loạn An Lộc Sơn trở đi, tình hình xã hội tiếp tục suy đồi. Tác phẩm của các nhà thơ xã hội như Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị phản ánh rất rõ thực trạng này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Sách

Trần Văn Nhĩ, Tuyển Tập Thơ Đường, Nxb Văn Nghệ TP.HCM

Nguyễn Thị Bích Hải, Thi Pháp Thơ Đường, Nxb Thuận Hóa

Lê Kim Giao, Thần Luận Thơ Đường, Nxb Văn Học

Ngô Văn Phú, Thơ Đường Ở Việt Nam, Nxb Hội Nhà Văn

2. Trang web

http://www.agu.edu.vn/ebooks/history/duongthi.pdf

Cao Tự Thanh, thơ đường và giai thoại thơ đường, http://www.daovien.net/t14-topic

http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=245EaWQ9MzM0Jmdyb3VwaWQ9JmtpbmQ9ZXhhY3Qma2V5d29yZD1USCVjNiVhMCslYzQlOTAlYzYlYWYlZTElYmIlOWNORw==&page=1

http://nom.netnam.vn/HanNom/TuLieu/duongthi.htm

http://www.hoasontrang.us/tangpoems/duongthi.php

http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%83_lo%E1%BA%A1i:Th%C6%A1_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam

Bàn Về Thơ Đường Luật, http://www.vietlandnews.net/forum/showthread.php/35-B%C3%A0n-v%E1%BB%81-th%C6%A1-%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng-lu%E1%BA%ADt

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

&

BÀI THUYẾT TRÌNH GIỮA KỲ MÔN

VĂN HÓA TRUNG HOA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ

CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC

VĂN HÓA ẨM THỰC VÙNG TỨ XUYÊN Ở TRUNG QUỐC

Giảng viên:GS.TSKH. TRẦN NGỌC THÊM

Học Viên : VŨ VĂN TUẤN

QUAN YẾN ANH

NGUYỄN THỊ NGỌC HẠNH

CAO THÚY NGA

PHẠM NGUYỄN NHƯ AN

VÕ HỒNG ÁNH

TRẦN HÙNG MINH PHƯƠNG

PHẠM TẤN THÔNG

NGUYỄN ĐỨC KHANH

clip_image003

TP. HỒ CHÍ MINH 11-2011

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU.. 4

1. Lý do chọn Đề tài 4

2. Mục đích Nghiên cứu. 6

3. Lịch sử Nghiên cứu Vấn đề. 6

4. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu. 9

5. Ý nghĩa Khoa học và Thực tiễn. 9

6. Phương pháp nghiên cứu. 9

7. Bố cục. 9

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.. 11

I.1. Những Quan điểm Nghiên cứu về Văn hóa và Văn hóa Ẩm thực của một số học giả trong và ngoài nước. 11

I.1.1. Khái niệm Văn hóa. 11

I.1.2. Khái niệm Văn hóa Ẩm thực. 12

I.1.3. Mối quan hệ giữa Văn hóa Ẩm thực và Văn hóa. 14

I.2. Khái quát vùng đất và con người vùng Tứ Xuyên ở Trung Quốc. 15

I.2.1. Khái quát chung về Vị trí địa lý và điều kiện thiên nhiên. 17

I.2.2. Điều kiện Kinh tế Xã hội 19

I.3. Lịch sử hình thành Văn hóa Ẩm thực của cư dân vùng Tứ Xuyên ở Trung Quốc 21

I.3.1. Lịch sử hình thành. 21

I.3.2. Sơ lược về cộng đồng các dân cư và mối quan hệ giữa cư dân vùng Tứ Xuyên với Văn hóa Ẩm thực Trung Quốc. 23

I.4. Tiểu kết 25

CHƯƠNG II: MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN VỀ ẨM THỰC CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG TỨ XUYÊN Ở TRUNG QUỐC.. 26

II.1. Cơ cấu Bữa ăn và Cách chế biến Món ăn. 26

II.1.1. Cơ cấu Bữa ăn. 26

II.1.2. Cách chế biến Món ăn. 27

II.2. Nghệ thuật Bài trí món ăn và Thức uống phổ biến trong bữa ăn. 35

II.2.1. Nghệ thuật Bài trí món ăn. 35

II.2.2. Thức uống phổ biến trong bữa ăn. 37

II.3. Tiểu kết 39

CHƯƠNG III: ẨM THỰC CỦA NGƯỜI TỨ XUYÊN TRONG QUAN HỆ ỨNG XỬ VÀ GIAO LƯU VĂN HÓA.. 40

III.1. Ứng xử với môi trường Tự nhiên. 40

III.1.1. Tận dụng môi trường Tự nhiên. 40

III.1.2. Thích nghi môi trường Tự nhiên. 44

III.2. Ứng xử với môi trường Xã hội 45

III.3. Ứng xử với thế giới Siêu nhiên. 46

III.3.1. Ăn chay. 46

III.3.2. Nghệ thuật tạo hình và tín ngưỡng qua món ăn. 48

III.3.3. Ẩm thực ngày giỗ, lễ và tết 52

III.3.4. Văn hóa ẩm thực Tứ Xuyên trong quá trình Giao lưu và Hội nhập. 54

III.4. Tiểu kết 55

KẾT LUẬN.. 56

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH.. 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 58

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn Đề tài

Nhắc tới Trung Quốc là nhắc tới sự huyền bí, hùng vĩ, sâu thẳm của văn hóa.Trải qua mấy ngàn năm văn hiến, với vô vàn những biến cố của lịch sử,văn hóa Trung Quốc vẫn giữ vẹn nguyên được vị thế của mình trên thế giới. Nhắc tới chiều dài lịch sử văn hóa Trung Quốc, không thể không nhắc tới văn hóa ẩm thực. Văn hóa ẩm thực ngay từ thuở sơ khai, khi mà hai chữ văn hóa chưa được khai sinh thì ẩm thực đã là một phần không thể tách rời trong cuộc sống và con người Trung Quốc.

Ngay từ thời nhà Thương Chu, ẩm thực đã hiện diện và được nhắc tới nhiều trong kinh thi, lễ chế. Và cũng trong thời này các quy ước lý luận nấu nướng cũng đã trở thành căn cứ lý luận nấu nướng mấy ngàn năm về sau của Trung Quốc. Thời Tần Hán, Trung Quốc trở thành một nhà nước đa dân tộc thống nhất. Điều này thuận lợi cho việc thúc đẩy sự giao lưu về văn hóa ẩm thực giữa các dân tộc và giữa các địa phương. Đặc biệt là ở thời nay “食疗” (thực liệu = dùng ăn uống để chữa bệnh) đã trở lên thịnh hành. Đến thời Ngụy Tấn là một bước ngoặt đánh dấu sự phồn vinh trong nghiên cứu ẩm thực Trung Quốc, với sự xuất hiện nhiều tác giả và tác phẩm tiêu biểu. Và song song với sự lớn mạnh của lịch sử, trải qua các đời Tùy Đường Tống, Nguyên Minh Thanh, việc giao lưu học hỏi với thế giới bên ngoài ngày càng được mở rộng, ẩm thực Trung Quốc lại càng chứa trong mình nhiều báu vật hơn.Cùng với chiều dài lịch sử văn hóa của Trung Quốc đã tạo cho mình một nền ẩm thực đồ sộ lâu đời và liên tục, tạo sự tò mò, lôi cuốn đặc biệt tới những người yêu thích sự tìm tòi.

Ẩm thực không những là một phần thiết yếu của cuộc sống mà nó còn là một mảnh ghép không thể tách rời của văn hóa.Thông qua ẩm thực ta có thể đi sâu tìm hiểu về chính trị, kinh tế, văn hóa và cả điều kiện tự nhiên của từng vùng miền. Bởi vậy ngay từ đầu người Trung Quốc đã quan niệm ẩm thực là động lực ban đầu để phát triển văn hóa. Từ rất sớm Trung Quốc đã hình thành vững chắc những quan niệm “礼乐文化始于食”(lễ nhạc văn hóa thủy vu thực = văn hóa lễ nhạc đều bắt đầu từ cái ăn); “民以食为天” (dân dĩ thực vi thiên = dân coi cái ăn là trời).Và ngay cả trong văn hóa Việt Nam cũng vậy, những câu nói về ẩm thực ăn uống quen thuộc được truyền tụng từ đời nay qua đời khác như: có thực mới vực được đạo, miếng trầu là đầu câu chuyện… Và dựa vào đó ta cũng có thể dễ dàng rút ra rằng: Ẩm thực là con đường ngắn nhất dẫn ta tới với con người và văn hóa.

Là một đất nước rộng lớn, với dân số là 1,3 tỉ dân, 56 dân tộc cùng sinh sống, lãnh thổ trải dài trên nhiều địa hình với điều kiện tự nhiên khác biệt, tạo cho Trung Quốc một kho tàng ẩm thực đồ sộ vô cùng phong phú và đa dạng, với 8 trường phái lớn hay còn gọi là “ Bát đại thái hệ”: Tứ Xuyên, Sơn Đông, Quảng Đông, Giang Tô, Hồ Nam, Phúc Kiến, An Huy, Chiết Giang. Trong đó độc đáo nhất có ảnh hưởng lớn nhất là: Chiết Giang, Sơn Đông, Quảng Đông, Giang Tô được gọi chung với tên “ Tứ đại thái hệ”. Mỗi thái hệ đều có một lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, mỗi thái hệ đều có mối quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên, điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa của từng vùng miền đó.

Trước sự cuốn hút của ẩm thực Trung Quốc, cùng với sự gợi ý, chỉ dạy tận tình và truyền lửa đam mê của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, nhóm chúng em đã chọn “Văn hóa ẩm thực vùng Tứ Xuyên ở Trung Quốc để làm đề tài nghiên cứu khoa học. Đề tài của nhóm em bước đầu tìm hiểu “Tứ đại thái hệ” trong ẩm thực Trung Quốc. Nhóm em mong thông qua đề tài có thể thỏa mãn phần nào niềm đam mê nghiên cứu, và đặc biệt sự thích thú tò mò đối với văn hóa ẩm thực và con người Trung Quốc của nhóm. Mặc dù, đã cố gắng hết sức mình, nhưng do khối kiến thức đồ sộ rộng lớn của đề tài, số lượng tài liệu tham khảo không nhiều và kiến thức, kinh nghiệm, thực học còn giới hạn, vậy nên trong đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm em chắc chắn sẽ không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Vì vậy, rất mong Thầy(cô), nhà nghiên cứu về ẩm thực, bạn đọc…góp ý để bài nghiên cứu của nhóm em hoàn thiện hơn.

2. Mục đích Nghiên cứu

Mục tiêu là làm rõ đặc điểm, giá trị của ẩm thực vùng Tứ Xuyên ở Trung Quốc. Ngoài ra, đi sâu tìm hiểu những giá trị và đặc điểm mới do các điều kiện về tự nhiên, văn hóa của xã hội mới tạo lên.

3. Lịch sử Nghiên cứu Vấn đề

Trung Quốc là một nước lớn có nền lịch sử văn hóa ẩm thực lâu đời. Ẩm thực luôn được coi là một trong những động lực ban đầu để phát triển văn hóa.

Trong Kinh Thi thời Tây Chu có 130 loại thực vật, 200 loại động vật. Người thời bây giờ có vẻ chăm chút việc ăn, có câu “ Muốn ăn cá phải là cá phương dưới sông”. Đến thời Xuân Thu, không những thực phẩm phong phú mà cách ăn cũng được chăm chút, Khổng Tử đề ra cái gọi là “Bảy điều không nên ăn” (thất bất thực).

Thời Tần Hán, Trung Quốc trở thành một nhà nước đa dân tộc thống nhất. Điều này thuận lợi cho việc thúc đẩy sự giao lưu về văn hóa ẩm thực giữa các dân tộc và giữa các địa phương. Việc nghiên cứu văn hóa ẩm thực tương ứng cũng tiến lên một đài cao mới. Đặc biệt là sự thịnh hành của việc theo đuổi thuật trường thọ càng thúc đẩy một bước sự phát triển của lí luận “食疗” (thực liệu_dùng ăn uống để chữa bệnh). Xuất hiện nhiều nghiên cứu ăn uống dưỡng bệnh, chủ yếu có Hoàng đế nội kinh 黄帝内经, Thần Nông bản thảo kinh 神农本草经, Sơn hải kinh 山海经, v.v.. đặt cơ sở nền móng cho sự hình thành lí luận ăn uống trị bệnh sau này.

Thời Ngụy Tấn, nghiên cứu văn hóa ẩm thực Trung Quốc bắt đầu bước vào thời kì phồn vinh, các sách về mọi mặt chế biến, nêm nấu thức ăn và thức ăn chữa bệnh đồng loạt xuất hiện. Trong thời gian này, các sách về ẩm thực và nấu nướng có 6 tài liệu của 6 tác giả, bao gồm: Thôi thị thực kinh 崔氏食经, Thực kinh 食经, Thực soạn thứ đệ pháp 食馔次第法, Tứ thời ngự thực kinh 四时御食经, Mã Uyển thực kinh 马琬食经, Hội kê quận tạo hải vị pháp 会稽郡造海味法. Nhưng các sách này đều bị mất, tác giả của nó vẫn chưa rõ.

Đến thời Tùy Đường, Trung Quốc lần nữa thống nhất, xã hội bắt đầu tiến lên đỉnh cao, nhà nước đạt đến cường thịnh hơn trước, kéo theo sự giao lưu văn hóa với thế giới bên ngoài cũng tiến thêm một bước, con người bắt đầu chú trọng nghiên cứu các mặt ẩm thực, y học sức khỏe, giải trí, v.v.. Nhà Tùy ngắn ngủi, thành quả nghiên cứu về ẩm thực chỉ có Tạ Phúng thực kinh 谢讽食经 do Tạ Phúng 谢讽biên soạn, và chỉ ghi chép 53 tên gọi rau thịt.

Thời Thịnh Đường và thời nhà Tống, xã hội tương đối ổn định, dân giàu nước mạnh, con người theo đuổi an nhàn và hưởng lạc, theo đuổi nhu cầu về cái ăn, từ đó mà làm cho văn hóa ẩm thực trở thành cao trào, các trào lưu văn hóa ẩm thực mới cũng không ngừng ra đời. Thư tịch về nấu ăn và chế biến món ăn hiện còn chủ yếu có: Vĩ Cự Nguyên thực phổ 韦巨源食谱, Thiện phu kinh thủ lục 膳夫经手录.

Đến thời Nguyên Minh Thanh, Trung Quốc lần nữa xuất hiện cục diện đại thống nhất, văn hóa ẩm thực phát triển càng mạnh mẽ. Thêm vào đó, trên lĩnh vực chính trị, vương triều phong kiến dần dần đi vào thời kì đen tối, rất nhiều văn nhân trốn tránh hiện thực, vui với ẩm thực để nghiên cứu việc nhàn, việc nhã, việc thiện, từ đó mà trước thuật nhiều vấn đề liên quan ẩm thực, đạt đến thời kì cao trào hơn trước.Các tài liệu liên quan đến nấu nướng và chế biến món ăn có: Cư gia tất dụng sự loại toàn tập “居家必用事类全集”, Dịch nha di ý 易牙遗意 của Hàn Diệc 韩奕, Chế trà tân phổ 制茶新谱 của Tiền Xuân Niên 钱椿年, Tống thị tôn sinh 宋氏尊生 của Tống Hủ 宋诩, Trà sớ 茶疏 của Hứa Thứ Thiên 许次纡, Tùy Viên thực đơn 随园食单 của Viên Mai 袁枚, Hồ nhã 湖雅 của Uông Nhật Trinh 汪日桢, Trung quĩ lục 中馈录 của Tăng Ý 曾懿, v.v.. Trong đó Cư gia tất dụng sự loại toàn tập và Tùy Viên thực đơn nổi tiếng nhất.

Trong thời trung đại, Hán, Đường, Tống, Minh là những vương triều lớn, đó cũng là những thời kỳ Trung Quốc rất cường thịnh và phát triển về mọi mặt, đặc biệt là ẩm thực. Triều Nguyên và Thanh cũng là hai triều đại lớn, nhưng triều Nguyên do người Mông Cổ thành lập, triều Thanh do người Mãn Châu thành lập nên, trong xã hội tồn tại mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp rất gay gắt do đó đã hạn chế sự phát triển văn hóa ẩm thực. Triều Thanh tuy tồn tại đến năm 1911, nhưng từ năm 1840, tính chất của ẩm thực Trung Quốc đã thay đổi mang hướng Tây hóa.

Thời kì sau khi nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập đến trước cải cách mở cửa (1949 – 1978), hầu như không có ai tiến hành nghiên cứu lĩnh vực văn hóa ẩm thực. Theo thống kê chưa đầy đủ, tài liệu nghiên cứu về mặt này từ năm 1979 về trước không quá 10 cuốn. Nhưng cùng với sự đi sâu nghiên cứu “Cơn sốt văn hóa” bắt đầu từ thập niên 80 và “Cơn sốt du lịch” vào đầu thập niên 90 của thế kỉ trước, thì tình hình nghiên cứu văn hóa ẩm thực ở thập niên 90 xuất hiện một cao trào mới mạnh mẽ hơn trước. Từ năm 1990 đến cuối năm 1996 tổng cộng gần hơn 300 bài báo khoa học, xuất bản gần 410 cuốn sách. Trong đó chỉ riêng năm 1993 đã xuất bản hơn 100 cuốn sách, 62 bài báo khoa học, có thể xem là một dấu ấn đặc biệt.

Kiến thức về ẩm thực Trung Quốc rất rộng lớn, được tạo lên bởi hàng nghìn năm lịch sử, đã có rất nhiều sách do các tác giả Việt Nam nghiên cứu về ẩm thực Trung Quốc:

“Tập Tục Ẩm Thực Của Người Trung Hoa” Tác giả Hà Thiện Thuyên (Xuất bản 09/2007 NXB Thanh Hóa)

“Thế Giới Ẩm Thực Đầy Quyến Rũ Của Trung Quốc” Tác giả Nhật Hà (Xuất bản 2006 NXB Hà Nội)

Trong đề tài nhóm chúng em đi sâu tìm hiểu các đặc điểm cơ bản của “Tứ đại thái hệ”, vùng ẩm thực đặc sắc nhất, đem lại cái nhìn gần gũi thiết thật nhất.

4. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi của đề tài, bước đầu đi sâu nghiên cứu đặc điểm và giá trị của bốn phong vị chính trong ẩm thực của Trung Quốc hay còn gọi là “Tứ đại thái hệ”. Bên cạnh đó đưa ra cái nhìn tổng quan về văn hóa ẩm thực Trung Quốc nói chung, cũng như văn hóa ẩm thực vùng Tứ Xuyên ở Trung Quốc nói riêng.

5. Ý nghĩa Khoa học và Thực tiễn

Đề tài sẽ giúp cho tất cả các đối tượng nghiên cứu về Trung Quốc Học có thêm những kiến thức xã hội về đất nước con người Trung Quốc nói chung, đặt biệt về văn hóa ẩm thực nói riêng của trung quốc, được thể hiện ở vùng Tứ Xuyên. Với thời gian làm rất hạn chế, mong muốn lớn nhất của nhóm em là muốn đem đến cho những người cùng yêu thích văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là ẩm thực Trung Quốc: một cái nhìn sâu sắc nhất, gần ngũi nhất. Góp phần làm rộng lớn hơn tài liệu tham khảo cho tất cả các đối tượng nghiên cứu về Trung Quốc Học. Và cũng từ đề tài nghiên cứu này nhóm em cũng như những người đọc sẽ thêm quý trọng và giữ gìn nét đặc sắc trong ẩm thực Việt Nam.

6. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài dùng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh.

Dùng phương pháp tổng hợp các kiến thức nền tảng về vị trí địa lý, văn hóa, kinh tế của từng vùng và tổng hợp những món ăn của từng vùng.

Từ đó dùng phương pháp phân tích các ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên và xã hội đến văn hóa ẩm thực đặc biệt là văn hóa ẩm thực ở vùng Tứ Xuyên. Phân tích từ món ăn đưa đến giá trị tinh thần và quan niệm của người dân.

7. Bố cục

Ngoài Phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục hình ảnh, còn có phần nội dung được chia làm 3 chương như sau;

Chương I: Những vấn đề Lý luận và Thực tiễn

Chương II: Một số đặc trưng cơ bản về ẩm thực của người dân vùng Tứ Xuyên ở Trung Quốc

Chương III: Ẩm thực của người Tứ Xuyên trong quan hệ ứng xử và giao lưu văn hóa

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

I.1. Những Quan điểm Nghiên cứu về Văn hóa và Văn hóa Ẩm thực của một số học giả trong và ngoài nước

I.1.1. Khái niệm Văn hóa

Đã có rất nhiều các tổ chức, các quốc gia và các chuyên gia nghiên cứu về văn hoá đưa ra các khái niệm về văn hoá và các vấn đề liên quan, và hiện tại chưa có một khái niệm nào về văn hoá được thống nhất tuyệt đối. Có thể đưa ra một số quan niệm, khái niệm và định nghĩa về văn hoá như sau:

Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô (1982) để bắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO. Đã thống nhất đưa ra một khái niệm về văn hoá như sau:

“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”.

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.”

Cựu Tổng Giám đốc UNESCO GS Federico Mayor khi ông đưa ra một định nghĩa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sông động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khử cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thông các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng địinh bản sắc riêng của mình”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày một quan niệm về văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”.

GS VS. TSKH Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Và qua so sánh, rà soát thì theo GS. VS. TSKH Trần ngọc Thêm : “bốn đặc trưng sau chính là những đặc trưng cần và đủ để phân biệt thế nào là văn hóa, gồm: a) tính hệ thống cần để phân biệt văn hóa như một hệ thống giá trị với quan niệm sai lầm coi văn hóa như một tập hợp (phức hợp) của những tri thức rời rạc từ nhiều lĩnh vực; b) tính giá trị cần để phân biệt văn hóa như cái có giá trị với cái phi văn hóa; c) tính nhân sinh cần để phân biệt văn hóa như cái nhân tạo với các giá trị tự nhiên; d) tính lịch sử cần để phân biệt văn hóa như cái được tích lũy lâu đời với văn minh như cái chỉ trình độ phát triển ở một thời điểm nhất định. Định nghĩa văn hóa của chúng tôi chính là sự tổng hợp của bốn đặc trưng cơ bản đó. Liên quan tới bốn đặc trưng cơ bản này là bốn chức năng cơ bản: tổ chức xã hội, điều chỉnh xã hội, giáo dục và giao tiếp”.

Như vậy, có thể khẳng định rằng văn hóa không chỉ dừng lại ở một sự vật, hiện tượng mà là một hệ thống – một hệ thống hữu cơ từ vật chất đến tinh thần mà con người tạo ra, đã tích lũy lại sau một quá trình sống.

I.1.2. Khái niệm Văn hóa Ẩm thực

Cũng như văn hóa nói chung, có mấy trăm định nghĩa khác nhau, văn hóa ăn uống – văn hóa ẩm thực cũng vậy, tùy theo quan niệm của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng lại hình thành những khái niệm, định nghĩa khác nhau về văn hóa ẩm thực.

Theo “Từ điển Việt Nam thông dụng” [trang 37, Nxb Văn Hóa, 2002] thì định nghĩa ẩm thực theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, “Văn hóa ẩm thực là một phần văn hóa nằm trong tổng thể, phức thể các đặc trưng diện mạo về vật chất, tinh thần, tri thức, tình cảm.., khắc họa một số nét cơ bản, đặc sắc của một cộng đồng, gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia…Nó chi phối một phần không nhỏ trong cách ứng xử và giao tiếp của một cộng đồng, tạo nên đặc thù của cộng đồng ấy”. Theo nghĩa hẹp, “Văn hóa ẩm thực” là những tập quán và khẩu vị của con người, những ứng xử của con người trong ăn uống, những tập tục kiêng kỵ trong ăn uống, những phương thức chế biến bày biện trong ăn uống và cách thưởng thức món ăn.

Theo cuốn “Phân tích khẩu vị” của Jean Anthelme Brillat Savarin – một luật sư người Pháp, thì “văn hóa ẩm thực là một biểu hiện quan trọng trong đời sống con người, nó cũng hàm chứa những ý nghĩa triết lý, là những gì chính tạo hóa giúp con người kiếm thức ăn, nuôi sống họ lại còn cho họ nếm mùi khoái lạc với các món ăn ngon”. Đó là một niềm hạnh phúc lớn lao của con người, là phần thưởng của tạo hóa dành cho con người.

Theo DS. Trần Xuân Thuyết [Tạp chí Văn hóa nghệ thuật ăn uống, số 199/2006] thì “Ăn uống là nhu cầu sinh tồn của muôn loài sinh vật. Nhưng chỉ có con người – một loài sinh vật thượng đẳng mới xây dựng được nền văn hoá đa dạng, trong đó có văn hóa ăn uống”.

Theo Nguyễn Công Cảnh [nguồn http://www.abccc.sky.vn] thì: Ẩm thực là thành tố văn hóa trong những năm gần đây, ẩm thực được khẳng định và có vị trí quan trọng trong sự phát triển về kinh tế, chính trị của các vùng miền. Ẩm thực là một trong những biểu hiện sinh động của văn hóa thông qua ẩm thực và nghệ thuật ăn uống con người đã thể hiện được tư tưởng tâm thức, lối sống và cách sử xự của con người trước môi trường tự nhiên và xã hội. Ăn uống là khái niệm trừu tượng ngay trong quan niệm về ăn uống thì cư dân phương Đông và cư dân phương Tây có những quan niệm khác nhau. Ăn uống để duy trì sự sống đồng thời nó có thể hiện các giá trị nhân văn, giáo dục và nhân phẩm của con người đây là điều căn bản tạo nên sự khác biệt trong ăn uống giữa con người và con vật.

I.1.3. Mối quan hệ giữa Văn hóa Ẩm thực và Văn hóa

Ăn uống có văn hoá và văn hoá trong ăn uống là 2 phạm trù có quan hệ chặt chẽ, đan xen với nhau.

+ Ăn uống có văn hoá là quan điểm, là cách ứng xử trong ăn uống.

+ Văn hoá trong ăn uống là cách thể hiện, cách chế biến các món ăn, trang trí và xếp đặt món ăn, cách thức ăn uống riêng.

Do đó, nếu xét ẩm thực như 1 thành tố văn hóa thì chúng ta cần hiểu rõ tại sao ẩm thực lại được xem là một thành tố văn hóa không thể thiếu khi chúng ta nghiên cứu về văn hóa con người.

Con người trong quan hệ gắn bó với tự nhiên, ngay từ đầu đã hình thành nên những ứng xử khác nhau với tự nhiên nhằm duy trì sự sống của mình. Vì vậy việc ăn uống và kỹ thuật chế biến các món ăn có thể được hiểu một cách đơn giản nhất là sự thích nghi mang tính chủ động tích cực đối với môi trường tự nhiên của loài người nói chung.

Mỗi định nghĩa, mỗi khái niệm đều nêu lên được những nét đặc trưng cơ bản, những nét đẹp riêng của văn hóa ẩm thực, tuy nhiên để phân biệt văn hóa ẩm thực với các loại hình văn hóa khác thì e là chưa đủ. Nếu tập hợp toàn bộ những khái niệm, định nghĩa đó lại, chúng ta sẽ có được một khái niệm chung nhất và đầy đủ nhất. Người viết cho rằng văn hóa ẩm thực là một bộ phận tinh hoa văn hóa, là những gì liên quan đến ăn uống nhưng mang nét đặc trưng của mỗi cộng đồng cư dân khác nhau, thể hiện cách chế biến và thưởng thức các món ăn, uống khác nhau, phản ánh đời sống kinh tế, văn hóa – xã hội của dân tộc đó.

Khi nói đến văn hóa ẩm thực thì trước hết người ta đề cập đến chuyện ăn uống (ẩm thực) với nguyên liệu đều do môi trường tự nhiên cung cấp và con người đã biết tận dụng, khai thác nguồn cung cấp này thông qua cách chế biến các món ăn uống nhằm cung cấp năng lượng cần thiết phục vụ cho sự tồn tại của chính bản thân mình nhưng điểm khác biệt giữa con người và các loài động vật khác đó là con người không những đã biết tận dụng nguồn cung cấp từ môi trường tự nhiên và còn biết biến những nguồn cung cấp này thành những món ăn mang tính độc đáo riêng của loài người, phục vụ nhu cầu cao hơn của loài người là giá trị chân-thiện-mỹ, đây mới chính là văn hóa ẩm thực với điểm xuất phát là ẩm thực.

Như vậy, khi xét ẩm thực trên phương diện như một thành tố về văn hóa, chúng ta cần xem xét tổng thể không những đặc điểm mang tính tổng quan của ẩm thực (như nguyên liệu đầu vào, cách chế biến, bày biện, thưởng thức…mà còn thông qua những đặc điểm đó làm nổi bật lên sự khác biệt về cách tiếp cận trên bình diện tinh thần như: cách ứng xử với tự nhiên, sự lựa chọn trong việc sử dụng nguyên liệu nấu nướng nhằm phục vụ cho nhu cầu vật chất và tinh thần của loài người và xã hội loài người. Trong phạm vi tiểu luận này, tôi chỉ xin đề cập đến văn hóa ẩm thực của người Hán ở Tứ Xuyên như là một minh chứng cụ thể cho phương diện lý thuyết này.

I.2. Khái quát vùng đất và con người vùng Tứ Xuyên ở Trung Quốc

clip_image004clip_image006`Lãnh thổ của tỉnh và các khu tự quản của nó là chiếc nôi của các nền văn minh địa phương có một không hai mà có thể tìm ngược về ít nhất là Thế kỷ thứ 15 trước công nguyên (vài năm sau thời Nhà Thương). Bắt đầu từ thế kỷ 9 trước công nguyên, Thục Quốc (ngày nay là Thành Đô) và Ba Quốc (ngày nay là thành phố Trùng Khánh) nhập lại thành các trung tâm quản trị và văn hóa mà hai vương quốc kình chống nhau được thành lập.

Sự tồn tại của Thục Quốc không được biết đến cho đến khi có cuộc khám phá khảo cổ năm 1986 ở một ngôi làng nhỏ tên Tam Tinh Đôi ở địa cấp thị Quảng Nguyên. Người ta tin rằng đó là một thành phố cổ của Thục Quốc, cuộc khai quật đã cho nhiều thông tin khảo cổ vô giá.

Mặc dù Nhà Tần đã đến tàn phá văn minh của Thục Quốc và Ba Quốc, nền văn hóa của hai tiểu quốc vẫn được bảo tồn và còn được người dân Tứ Xuyên thừa hưởng cho đến ngày nay. Triều đình nhà Tần cũng tăng tốc các tiến bộ nông nghiệp và kỹ thuật của Tứ Xuyên sánh ngang hàng với vùng Thung lũng Hoàng Hà. Hệ thống tưới tiêu Đô Giang Yển được xây dựng vào thế kỷ 3 trước công nguyên dưới sự giám sát của Lý Băng là biểu tượng của hiện đại hóa trong thời kỳ đó. Nó gồm có một loạt nhiều đập và làm đổi hướng dòng chãy của Mân Giang, một nhánh sông chính của Dương Tử Giang, đến các cánh đồng và giảm bớt sự thiệt hại của các trận lũ muà. Việc xây dựng này và nhiều công trình khác nhau đã gia tăng rất lớn thu hoạch nông sản trong khu vực mà như thế trở thành nguồn cung cấp dự trữ lương thực và nhân lực cho việc thống nhất Trung Hoa của nhà Tần.

Có rất nhiều loại mỏ quặng ở đây. Thêm vào sự nổi bật của nó, khu vực này cũng nằm trên con đường buôn bán từ vùng Thung lũng Hoàng Hà đến các nước ngoài ở phía tây nam, đặc biệt là Ấn Độ.

Tầm quan trọng về quân sự xứng hợp với các giá trị nông nghiệp và giao thương. Vì vùng này thật sự là một cái lòng chảo và vây quanh bởi dãy núi Himalayas về phía tây, dãy núi Tần Lĩnh về phía bắc, và các vùng núi đồi của Vân Nam về hướng nam, khí hậu thì thường có sương mù dày đặc. Vì sông Dương Tử chảy qua lòng chảo và như thế khu vực này là phần cao của dòng chảy so với các vùng phía đông của Trung Hoa, thủy quân có thể dễ dàng thả theo dòng xuống phía dưới. Thế nên vùng này từng là các căn cứ của nhiều nhóm quân phiệt có tham vọng và người tị nạn lẫn trốn các chính quyền của Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử. Một vài chính thể độc lập được thiết lập; nổi bật nhất là Thục Hán thời Tam Quốc. Nhà Tấn xâm chiếm và thôn tính Thục Hán trước tiên khi thực hiện việc thống nhất. Trong suốt thời Nhà Đường, vùng này là tiền tuyến chống Tây Tạng.

Nhà Nam Tống (960-1279) thiết lập phòng thủ điều hợp chống lại Nhà Nguyên Mông Cổ tại Tứ Xuyên và Tương Dương. Hàng rào phòng thủ cuối cùng bị phá vở sau khi quân Nguyên sử dụng súng và thuốc nổ đầu tiên trong lịch sử trong cuộc bao vây Tương Dương sáu năm. Khí hậu có sương mù đã ngăn cản quân đội Nhật Bản dội bom chính xác xuống vùng lòng chảo và thành phố Trùng Khánh nơi mà chính phủ Trung Hoa Dân Quốc di chuyển thủ đô của mình đến đó trong Đệ nhị Thế chiến.

I.2.1. Khái quát chung về Vị trí địa lý và điều kiện thiên nhiên

Tứ Xuyên: (tiếng Trung: 四川; Szechwan và Szechuan) là một tỉnh tại phía tây miền trung Trung Quốc. Thủ phủ là Thành Đô. Biên giới của Tứ Xuyên vẫn giữ nguyên như vậy khoảng 500 năm. Điều này thay đổi khi thành phố Trùng Khánh cũng như các thị trấn xung quang là Phù LăngVạn Châu được nhập lại thành khu hành chính mới là Thành phố Trực thuộc Trung Ương Trùng Khánh. Khu hành chính mới được thành lập là nỗ lực ban đầu của Trung Hoa để phát triển các vùng phía tây cũng như điều hợp tái định cư dân tị nạn từ kế hoạch Đập Tam Khẩu.

Vùng này nằm trong Lòng chảo Tứ Xuyên và bị vây quanh bởi dãy núi Himalayas về phía tây, dãy núi Tần Lĩnh về phía bắc, và các vùng núi đồi của Vân Nam về hướng nam. Sông Dương Tử chảy qua lòng chảo và như vậy nó là thượng nguồn đối với các vùng phía đông của Trung Hoa. Sông Mân Giang ở trung tâm Tứ Xuyên là một nhánh của thượng nguồn Sông Dương Tử mà nó nhập vào tại Nghi Tân.

Khí hậu thường có sương mù dày đặc. Có những thành phố bị ô nhiểm đôi chút và ít khi có ngày nắng.

Các tỉnh bao quanh: Trùng Khánh, Khu tự trị Tây Tạng, Thanh Hải, Cam Túc, Thiểm Tây, Quí ChâuVân Nam.

Ø Nông nghiệp

Tứ Xuyên từ xưa đã có tiếng là “Tỉnh giàu có”. Đây là một trong những nơi sản xuất nông nghiệp chính của Trung Quốc. Sản lượng ngũ cốc gồm lúa gạo và lúa mì của Tứ Xuyên đứng hàng đầu toàn Trung Quốc năm 1999. Thu hoạch từ các loại cam chanh, mía đường, khoai lang, và hạt cải dầu cũng đáng kể. Tứ Xuyên còn sản xuất lượng thịt lợn lớn nhất trong tất cả các tỉnh và đứng thứ nhì về sản lượng nong tằm tại Trung Quốc năm 1999.

Ø Khoáng sản

Tứ Xuyên là một tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản. Tỉnh có hơn 132 loại khoáng sản có tiềm năng với trữ lượng của 11 loại; Trong số đó Tứ Xuyên có trữ lượng vanadium, titanium, và lithium lớn nhất Trung Quốc. Riêng tỉnh Tứ Xuyên đã có trữ lượng 13,3% quặng sắt, 93% quặng titanium, 69% vanadium, 83% cobalt của toàn quốc.

Ø Công nghiệp

Tứ Xuyên là một trong các vùng kỹ nghệ chính của Trung Quốc. Ngoài kỹ nghệ nặng như than, năng lượng, và sắt thép, tỉnh đã thiết lập được một ngành sản xuất nhẹ gồm vật liệu xây dựng, làm gỗ, thực phẩm và dệt lụa.

Thành Đô và Mân Giang là trung tâm sản xuất hàng dệt may và đồ điện tử. Đức Dương, Phàn Chi Hoa, và Nghi Tân là trung tâm sản xuất cơ khí, kỹ nghệ luyện kim và rượu (theo thứ tự). Sản lượng rượu Tứ Xuyên chiếm 21,9% tổng sản lượng toàn quốc vào năm 2000.

Ø Công nghệ cao

Những bước tiến kinh tế vĩ đại đã góp phần phát triển Tứ Xuyên nhanh chóng thành một trung tâm công nghệ cao hiện đại qua nhiều cách như khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước trong ngành điện tử và công nghệ thông tin (như nhu liệu), máy móc và luyện kim (bao gồm xe hơi), thủy điện, dược phẩm, lương thực và giải khát. Công nghệ chế tạo xe hơi là một ngành quan trọng nắm chủ chốt của công nghệ chế tạo máy móc tại Tứ Xuyên. Đa số các công ty sản xuất xe hơi có trụ sở ở Thành Đô, Mân Giang, Nam Sung, và Lô Châu. Các ngành kỹ nghệ quan trọng khác tại Tứ Xuyên còn có kỹ nghệ không gian và quốc phòng. Một số hỏa tiễn của Trung Quốc (Hỏa tiển Trường Chinh) và vệ tinh nhân tạo đã được phóng từ Trung tâm Phóng Vệ tinh Tây Xương nằm trong thành phố Tây Xương.

I.2.2. Điều kiện Kinh tế Xã hội

Tứ Xuyên có 18 thành phố (địa cấp thị) và 3 châu tự trị:

· Thành Đô

· Miên Dương

· Đức Dương

· Nghi Tân

· Phàn Chi Hoa

· Lạc Sơn

· Nam Sung

· Tự Cống

· Lô Châu

· Nội Giang

· Quảng Nguyên

· Toại Ninh

· Tư Dương

· Quảng An

· Nhã An

· Mi Sơn

· Đạt Châu

· Ba Trung

· Châu tự trị dân tộc Tạng, dân tộc Khương A Bá

· Châu tự trị dân tộc Tạng Cam Tư

· Châu tự trị dân tộc Di Lương Sơn

Ø Thu nhập

Tổng sản phẩm nội địa của Tứ Xuyên trong năm 2004 là khoảng 655,6 tỉ Nhân dân Tệ ($81.33 tỉ đô la), tức bình quân đầu người là 6.270 Nhân dân Tệ (757 USD). Năm 2005, lợi tức đầu người ở vùng nông thôn tăng đến 2.800 tệ (US$350), tức là tăng 8,6% so với năm trước. Lợi tức tính theo đầu người của dân thành thị là 8.386 tệ (US$1.048), tăng 8,8% so với năm trước.

Ø Du lịch

Ngoài ra những cảnh quan đẹp và giàu di tích lịch sử cũng đã làm tỉnh này trở thành một trung tâm du lịch chính.

Đập Tam Khẩu, đập lớn nhất xưa nay, đang được xây cất trên Sông Dương Tử trong tỉnh Hồ Bắc lân cận hầu để kiểm soát lụt lội ở vùng Lòng chảo Tứ Xuyên, tỉnh Vân Nam kế cạnh, cùng hạ nguồn. Kế hoạch này được nhiều người hoan nghênh như một nỗ lực của Trung Quốc thay đổi chính sách để dùng năng lượng tái tạo (renewable energy) và phát triển các trung tâm thương mại và kỹ nghệ quốc nội; nhưng ngược lại cũng có người chỉ trích việc xây đập vì hậu quả gây thiệt hại như nông dân trong vùng phải xiêu tán, tiêu hủy các di tích khảo cổ và xâm hại hệ sinh thái.

Ø Nhân khẩu

Đa số dân chúng là người Hán, họ sống khắp nơi trong toàn tỉnh. Người dân thiểu số đáng kể là người Tây Tạng, người Lô Lô, người Khươngngười Nạp Tây sống trong phần phía tây.

Ø Văn Hoá

· Thực phẩm Tứ Xuyên

· Âm nhạc Tứ Xuyên

Đền tưởng niệm Lý Bạch, được xây tại nơi sinh của ông là thị trấn Trọng Ba thuộc phía bắc Huyện Giang Du trong tỉnh Tứ Xuyên, là một viện bảo tàng tưởng niệm Lý Bạch, một thi sĩ thời Nhà Đường (618-907). Nó được bắt đầu xây dựng vào năm 1962 nhân dịp lễ kỷ niệm 1.200 năm ngày ông mất, hoàn thành năm 1981 và mở cửa cho công chúng vào tháng 10 năm 1982. Đền tưởng niệm được xây theo lối kiến trúc hoa viên cổ thời nhà Đường.

Ø Ngôn ngữ

Hầu như có đủ các loại tiếng Trung Hoa được nói tại Tứ Xuyên, bao gồm tiếng Thành Đô ở thủ phủ tỉnh thuộc chi hệ tiếng Quan Thoại tây nam cuả nhóm tiếng Quan Thoại, và vì thế rất giống tiếng cuả các tỉnh lân cận như Vân Nam, Quí Châu cũng như thành phố Trùng Khánh.

Các khu tự trị ở miền tây Tứ Xuyên có đa số người Tây Tạng sinh sống. Họ nói các ngôn ngữ thuộc nhóm tiếng Tây Tạng như KhamAmdo. Người Khương tộc và các dân tộc có liên hệ nói các ngôn ngữ Khương tộc, đây cũng là một nhánh cuả hệ ngôn ngữ Tạng Miến. Người Lô Lô ở khu tự trị Lương Sơn thuộc miền nam Tứ Xuyên nói tiếng Lô Lô là ngôn ngữ có quan hệ gần gũi với tiếng Miến Điện.

Ø Du lịch

Các khu di sản thế giới cuả UNESCO:

· Đại Túc Thạch Khắc (Bức điêu khắc bằng đá tên Đại Túc), được kê như tài sản cuả Trùng Khánh

· Khu di tích lịch sử và ngoạn cảnh Hoàng Long

· Khu di tích lịch sử và ngoạn cảnh Cửu Trại Câu (Thung lũng 9 trại)

· Khu ngoạn cảnh Núi Nga Mi gồm có khu ngoạn cảnh Nhạc Sơn Đại Phật (tượng Phật to ở Nhạc Sơn)

· Núi Thanh Thành và hệ thống tưới tiêu tên Đô Giang Yển

· Khu bảo tồn gấu trúc Tứ Xuyên

I.3. Lịch sử hình thành Văn hóa Ẩm thực của cư dân vùng Tứ Xuyên ở Trung Quốc

I.3.1. Lịch sử hình thành

Tứ Xuyên là một tỉnh nằm ở phía Tây miền Trung Trung Quốc. Có thủ phủ là Thành Đô. Lãnh thổ của tỉnh và các khu tự quản của nó là chiếc nôi của các nền văn minh địa phương. Tứ Xuyên từ xưa đã có tiếng là “tỉnh giàu có”. Đây là một trong những nơi sản xuất nông nghiệp chính của Trung Quốc và cũng là một tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản. Ngoài ra những cảnh quan đẹp và giàu di tích lịch sử cũng đã làm tỉnh này trở thành một trung tâm du lịch chính.

Món ăn Tứ Xuyên có lịch sử lâu đời, gọi tắt là món ăn “Xuyên”. Ngày xưa, Tứ Xuyên được ví như là “Thiên phủ chi quốc”, nằm tại thượng lưu sông Trường Giang, khí hậu ấm áp, mưa thuận gió hòa, được bao bọc bởi núi với con sông Hoàng Hà chảy qua nên có nguồn lương thực dồi dào,rau xanh, trái cây các loại bốn mùa đều có, tập hợp rất nhiều loại thực phẩm cao lương mỹ vị như gấu, ngân nhĩ, đông trùng hạ thảo, măng…, dưới sông thì có các loại cá tôm đa dạng. Do có môi trường tự nhiên ưu việt, các loại nguyên liệu đặc sản phong phú, là điều kiện có lợi cho món ăn Tứ Xuyên hình thành và phát triển.

Người dân Tứ Xuyên do sống ở vùng núi cao, hay các vùng đất cao so với đồng bằng ( người xưa hay gọi là Trung nguyên ), gia vị của họ chủ yếu là vị cay nồng, đậm đà để giữ ấm cho cơ thể vì điạ thế vùng đất này cao. Món ăn của họ tuy cay giống món ăn Ấn Độ nhưng khác hẳn hoàn toàn về hương vị lẫn cách chế biến.

Món ăn Tứ Xuyên gồm hai trường phái là Thành Đô và Trùng Khánh, có đặc trưng là nhiều mùi vị và nồng đậm.. Món ăn chú trọng đến sắc, hương vị, hình thức, nhất là khá nhiều vị pha nồng đậm gồm: mặn, ngọt, chua, cay, thơm, đắng trộn lẫn khéo léo, biến hóa linh hoạt, đã pha chế ra mấy chủ vị phức hợp rất độc đáo như: cay tê, cay chua, dầu đỏ, dầu trắng… Nhiều khẩu vị lại khéo chế biến, mỗi món mỗi khác, trăm món trăm vị, nên đã được xếp hàng đầu các món ăn trong và ngoài nước.

Phương pháp nấu các món ăn Tứ Xuyên là khéo dựa vào các điều kiện nhiên liệu, khí hậu và thực khách, vận dụng linh họat vào tình hình cụ thể. Trong cách nấu ăn có hơn ba mươi phương pháp gồm: xào, rán, chiên, nộm, muối, kho, ướp…Các món ăn Tứ Xuyên rất coi trọng về thay đổi mùi vị, phân biệt rõ đậm nhạt, nặng nhẹ, món ăn không tách rời với ớt, hạt tiêu và hoa tiêu.

Có khá nhiều cách sử dụng ớt và rất linh họat, khi thì dùng làm nguyên liệu chính, khi thì dùng làm phối liệu, nhưng phần lớn là dùng làm gia vị. Đặc điểm lớn nhất của món ăn Tứ Xuyên là khéo điều chỉnh mùi vị, khẩu vị có nồng và nhạt, trong nhạt có nồng, nồng nhưng không ngấy, nhạt nhưng không bạc. Do đó món ăn Tứ Xuyên không những lắm vị và nồng đậm mà còn có sở trường về mặt thanh, tươi, đậm, nhã khiến người ăn đều tấm tắc khen ngợi và khó quên.

Theo đà sản xuất phát triển và kinh tế phồn vinh, các món ăn Tứ Xuyên trên cơ sở vốn có, đã hấp thu sở trường của các món ăn nam bắc, cũng như ưu điểm của các bữa tiệc quan chức và nhà buôn, hình thành đặc điểm món ăn miền bắc nấu theo kiểu Tứ Xuyên, nên mới được gọi là “Thực tại Trung Quốc, vị tại Tứ Xuyên” (thưởng thức món ăn Trung Quốc, đậm đà hương vị Tứ Xuyên).

I.3.2. Sơ lược về cộng đồng các dân cư và mối quan hệ giữa cư dân vùng Tứ Xuyên với Văn hóa Ẩm thực Trung Quốc

Trong các hệ món ăn mang phong cách khác nhau, bốn hệ món ăn Tứ Xuyên, Tô Châu, Hồ Bắc, Sơn Đông là nổi tiếng nhất. Sự hình thành phong cách riêng của bốn hệ món ăn đó đều có quan hệ với lịch sử, địa lý, khí hậu rõ rệt. Nơi hình thành món ăn Tứ Xuyên là hai vùng đất Ba (tên một nước thời Chu, ở miền Đông tỉnh Tứ Xuyên) Thục (nước Thục, tên gọi tỉnh Tứ Xuyên), tương truyền đã sớm có đầy đủ nét đặc sắc từ thời Hán Ngụy, Lục Triều, từ sau đời Đường đã phổ biến trong cả nước. Do bồn địa Tứ Xuyên mây nhiều, ít ngày nóng, không khí nặng vì thế món ăn Tứ Xuyên coi trọng dầu, mùi vị, nhất là ưa thích vừng ớt. Một nét đặc sắc khác của món ăn Tứ Xuyên là giỏi sử dụng nguyên liệu, rau cỏ. Thí dụ một miếng đậu hủ trong tay người đầu bếp Tứ Xuyên có thể chế biến thành các món ăn như đậu phụ chua ngọt, đậu phụ Ma bà, đậu phụ ngày thường, đậu phụ trong nồi cát v.v… Điều đáng sợ nhất trong các món ăn Tứ Xuyên là sự phối hợp gia vị vì nó rất phức tạp với mấy chục loại như nước gừng, dầu trắng, trần bì, ớt, chua cay, vừng, dầu hồng, ngư hương v.v…

Khu vực Tứ Xuyên nằm ở vùng thượng du Trường Giang, là một bồn địa trũng thấp, xung quanh có núi cao vây bọc. Phía đông – bắc có dãy Đại Ba Sơn cao từ 1000 đến 2500m. Phía tây – bắc là các dãy Đại Tuyết Sơn, Manh Sơn và Đại Lương Sơn đều cao từ 2000 đến 4500m. Thấp hơn cả là các dãy Vũ Lương Sơn và Đại Thê Sơn ở phía đông – nam và Vu Sơn ở phía chính nam. Các núi này chỉ cao từ 1000 đến 1500m. Do bốn bề có núi cao vây bọc, nên khí hậu Tứ Xuyên có tính chất khác hẳn các nơi khác.

Về mùa đông, các đợt lạnh từ phía bắc tràn về, đều bị núi cao ngăn lại. Các khối khí ít nhiều bị biến tính do hiệu ứng phơn đã làm cho khí hậu Tứ Xuyên tương đối ẩm so với các tỉnh khác ở phía đông.. Ở Thành Đô chỉ có năm ngày nhiệt độ xuống 00C, trong khi ở Vũ Hán có 26 ngày. Số ngày có tuyết rơi ở Trùng Khánh là 1,8; trong khi đó ở Vũ Hán là 13; ở Cửu Giang là 12.

Vì có khí hậu ôn hòa về mùa đông nên Tứ Xuyên có nhiều loại thực vật xanh quanh năm. Do địa hình bồn địa, nên về mùa hạ, Tứ Xuyên có nhiệt độ tương đối cao, độ ẩm lớn. Vào thanh1g 8, ban ngày trời thường có nhiều mây và sương mù. Tùy theo địa hình và hướng núi ở từng nơi, lượng mưa trung bình năm dao động từ 700 đến 1700mm. Ở trung tâm bồn địa, thường từ 800 đến 1200mm.

Nói chung, khí hậu Tứ Xuyên thuộc kiểu mưa nhiều về mùa hạ, mùa đông ấm, ít tuyết, mùa hạ nóng và dài, quanh năm có độ ẩm cao. Kiểu khí hậu này rất thuận lợi đối với nông nghiệp, nhất là đối với các cây lương thực. Chính vì vậy, Tứ Xuyên từ xưa vẫn là một vùng nông nghiệp trù phú, dân cư đông đúc.

Tỉnh Tứ Xuyên nằm ở phía nam lãnh thổ Trung Quốc, nằm trong bồn địa cùng tên ở phía đông cao nguyên Thanh Tạng, giáp các tỉnh Thanh Hải, Thiểm Tây, Cam Túc ở phía bắc, các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam ở phía đông, các tỉnh Quý Châu, Vân Nam ở phía nam và khu tự trị Tây Tạng ở phía tây. Tỉnh được thành lập từ thời nhà Minh. Tứ Xuyên vốn là vùng đất hiểm trở. Nơi đây chỉ có bốn đường xuyên qua các hẻm vực sâu, nên từ thời nhà Tống đã được gọi là “Xuyên Hiệp Tứ Lộ”. Địa danh này về sau đã được rút ngắn để trở thành tên tỉnh Tứ Xuyên (Nguyễn Dược (Chủ biên), Tìm hiểu địa lý Trung Quốc, NXB Giáo dục, 1998, trang 57).

Diện tích: 570.000 km2, dân số khoảng 101,8 triệu người, gồm các dân tộc Hán, Di, Tạng, Miêu Hồi, Khương v.v…

Văn hóa ăn của Trung Quốc có lịch sử lâu đời, nội dung phong phú, bao gồm rất nhiều phương diện như lí luận về nấu nướng, kĩ thuật nấu nướng, nguyên liệu thực phẩm, phong tục ăn tiệc và văn học ẩm thực.

Lịch sử nguồn gốc của việc nấu nướng:

I.4. Tiểu kết

CHƯƠNG II: MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN VỀ ẨM THỰC CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG TỨ XUYÊN Ở TRUNG QUỐC

II.1. Cơ cấu Bữa ăn và Cách chế biến Món ăn

II.1.1. Cơ cấu Bữa ăn

Phương pháp nấu của các món ăn Tứ Xuyên là khéo dựa vào các điều kiện nhiên liệu, khí hậu và thực khách, vận dụng linh hoạt tình hình cụ thể, trong cách nấu ăn có hơn 30 phương pháp gồm: xào, rán, chiên, kho, ướp, nộm, muối…

Món ăn Tứ Xuyên vô cùng phong phú và đa dạng từ các món cao cấp đến các món dân gian ăn nhẹ, ăn chơi hay các món ăn hàng ngày đều có rất nhiều. Có các món nổi tiếng là “vây cá kho khô” ; “cua xào thơm cay”; “gong bao ji ding”- Gà xào ớt, đậu phộng (món gà chua cay Tứ Xuyên)

Ø Một số món ăn tiếu biểu của Tứ Xuyên

Người Trung Quốc rất thích ăn cháo, kiêng không ăn những thức ăn có đặc tính hung dữ như hổ, báo… Những thức ăn họ thường ăn trong các nhà hàng là: nem, gà, vịt, ngan, lợn, cá, tôm, cua, ốc, bào ngư, cơm, cháo, mỳ, bún, chè…Người Trung Quốc rất thích ăn rau, đặc biệt là những món rau xào với lượng dầu mỡ cao.

Phương pháp nấu ăn của người Trung Quốc vô cùng phong phú, có đến mười mấy loại như: áp chảo, kho, xào, hầm, hấp, luộc, ninh, nướng, quay, rán, tần…mỗi loại lại phân thành rất nhiều loại nhỏ khác nhau. Dưới đây là một số phương pháp nấu ăn chủ yếu:

+ Luộc: là phương pháp nấu ăn cơ bản và đơn giản nhất, làm chín bằng cách bỏ thực phẩm ở thể trạng khối lượng nguyên cả con vào nước ( nước sôi hay nước lã ) rồi đun trong thời gian tương đối ngắn với độ nhiệt trung bình của lửa để làm thực phẩm chín tới hay chín mềm.

+ Xào: là phương pháp làm chín thực phẩm bằng ít chất béo, ở điểm sôi (dưới tác dụng của nhiệt), có phối hợp với ít nước, thời gian làm chín nhanh với nhiệt độ cao, nhằm đạt yêu cầu chín tới.

+ Kho: là phương pháp làm chín thực phẩm bằng cách dùng ít nước và gia vị (chủ yếu là gia vị mặn ), đun trong thời gian lâu để thực phẩm ngấm mặn và chín dừ.

+ Hầm: là phương pháp bỏ thực phẩm (đã rán hay xào) vào nước, đun nhỏ lửa trong thời gian lâu để làm cho thực phẩm thơm và chín dừ dần.

+ Quay: là phương pháp làm chín thực phẩm (chủ yếu là các loại thịt) bằng các tia nhiệt từ lò phát ra. Những tia nhiệt này có thể tác dụng trực tiếp hay gián tiếp vào thực phẩm làm cho thưc phẩm chín dần.

+ Tần: Nguyên liệu được để trong dụng cụ (chuyên dụng) kín, rồi đặt trong nồi nước đun sôi. Trong quá trình chế biến, nguyên liệu nhận nhiệt gián tiếp từ hơi nước sôi và nước sôi được chuyển qua dụng cụ chứa nguyên liệu, nhờ đó nước kín và nguyên liệu đem tần được nóng lên và chín dần.

+ Ninh: là phương pháp bỏ thực phẩm nguyên khối không cắt, chặt vào nồi nước, đun sôi lăn tăn trong thời gian lâu để thực phẩm tiết nhiều chất ngọt vào nước và chín dừ. Khác với món luộc, món ninh ăn luôn cả nước lẫn cái.

+ Nướng: là phương pháp dùng sức nóng trực tiếp của những tia nhiệt từ lò than/điện cháy đỏ phát ra tác dụng trực tiếp vào thực phẩm để biến đổi thực phẩm sống thành thực phẩm chín.

II.1.2. Cách chế biến Món ăn

Đặc điểm của các món ăn Trung Hoa là thường mang vị bổ, mát, có lợi cho sức khỏe. Người đầu bếp khi chế biến món ăn phải trải qua một quá trình, đó được gọi là “quá trình chế biến”. “Nấu” chính là việc cho thêm những loại gia vị cần thiết, sử dụng các cách chế biến thực phẩm khác nhau tạo ra một món ăn ngon.

Ø Đao công (thái và chặt) (刀工)

Trước hết là thái và chặt, mà người Trung Quốc gọi là đao công (刀工). Đó là cắt thức ăn sống thành miếng nhỏ chỉ bằng con dao và cái thớt. Có ít nhất 200 cách thái chặt mà mỗi loại có một tên riêng tùy theo hình dáng của thịt, cá và rau.

Đao công là một thao tác kỹ thuật do người đầu bếp căn cứ vào yêu cầu chế biến món ăn mà vận dụng các loại đao pháp, đem nguyên liệu chế biến thành hình dáng có quy cách nhất định. Nguyên liệu sử dụng nấu ăn đa dạng phức tạp, mỗi món ăn đều có một phương pháp nấu nướng nhất định. Đối với hình dạng và quy cách của nguyên liệu đều có yêu cầu nghiêm khắc, do vậy tất cả nguyên liệu trước khi được nấu nướng đều phải trải qua đao công xử lý.

²Tác dụng của đao công:

+ Thuận tiện cho nấu nướng: phương thức nấu ăn là căn cứ vào việc lựa chọn nguyên liệu để chế biến. Trong nấu nướng thực tế, nắm bắt được hỏa hầu và xử lý đao công là phương diện quan trọng giải quyết vấn đề chế biến nguyên liệu. Khâu này nếu như không giải quyết được sẽ rất khó tiến hành nấu nướng các món ăn.

+ Dễ nêm gia vị: khi nêm gia vị vào món ăn, cần căn cứ vào phương pháp nấu và tính chất của nguyên liệu, cũng cần căn cứ vào độ to nhỏ, dày mỏng của nguyên liệu để gia giảm gia vị cho phù hợp. Đao công có thể cắt nguyên liệu thành miếng, sợi, dây, viên, hình quân cờ, viên (hạt)..với kích cỡ to nhỏ, dày mỏng, đậm mảnh đều đặn khác nhau, làm rút ngắn thời gian gia vị thấm vào nguyên liệu.

+ Thuận tiện ăn uống: đao công có thể chặt nhỏ các loại nguyên liệu từ xương, lọc xương và thịt, chặt thành từng miếng, sợi, viên..làm cho người ăn nhìn rất dễ ăn.

+ Tạo hình đẹp: qua xử lý của đao công, nguyên liệu trở thành những hình dạng đẹp mắt. Có những loại nguyên liệu sau khi qua tay đao công của người đầu bếp có thể trở thành những mẫu hoa văn sinh động như thật.

²Các loại đao pháp cơ bản

Đao pháp là phương pháp dùng đao, đem nguyên liệu chế biến thành những hình dáng nhất định theo yêu cầu nấu nướng của món ăn. Có ba loại đao pháp cơ bản

+ Xí đao pháp ( 企刀法)

Xí đao pháp còn gọi là trực đao pháp (直刀法), là cách thức sử dụng dao làm cho nguyên liệu thành vuông góc dựa vào lưỡi dao và mặt thớt, bao gồm cắt (切) , băm (chặt)(剁), đẵn (đốn)(砍).

l Cắt (切): là phương thức cắt nguyên liệu từ trên xuống dưới, đặt lưỡi dao vuông góc với nguyên liệu. Do sử dụng các hướng dao không giống nhau, nên cắt lại có cắt thẳng (直切), cắt hớt (推切), cắt kéo (拉切), cắt cưa (锯切), thái (铡切), cắt vòng (滚切)…

clip_image007

Hình 2. Xí đao pháp

l Băm/thái (剁), còn gọi là chặt/bổ ( 斫). Băm (剁) có hai phương diện ứng dụng

ü Đem các loại thịt không có xương băm thành nát. Băm/thái (剁) có hai loại là băm song dao và băm đơn dao, cũng có dùng lưỡi dao và sống dao băm. Sống dao dày 2mm trở lên.

ü Băm các loại nguyên liệu có xương như gà, vịt, xương ống…

l Đẵn/chặt (砍), còn gọi là bổ/xẻ (劈): thích hợp chế biến các loại nguyên liệu có hình dáng to có xương hoặc có tính chất cứng. Chặt (砍) phân thành hai loại là chặt dao thẳng và chặt nối dao.

ü Chặt dao thẳng (直刀砍): có tác dụng đối với các nguyên liệu cần chặt chính xác, sử dụng vách dao, dùng lực chặt xuống, chỉ cần một nhát là chặt đứt, như là đầu cá lớn, xương heo…

ü Chặt nối dao (跟刀砍): là một nhát chặt không đứt, chặt thêm nhiếu nhát tiếp theo.

+ Bằng đao pháp (平刀法)

Bình đao pháp là một loại phương thức dùng mặt dao đặt song song với mặt thớt, khi cắt nguyên liệu để dao đặt bằng. Có thể phân thành bình đao phiến (平刀片), đẩy đao phiến (推刀片), kéo đao phiến (拉刀片).

l Bình đao phiến – thái dao bằng (平刀法): thích hợp dùng để thái các loại nguyên liệu mềm tươi, không có xương, như các loại thịt nạc…

l Đẩy đao phiến – thái đẩy dao (推刀法): thích hợp dùng để thái các loại nguyên liệu chín hoặc đặc biệt non mềm giòn, như thái các loại rau…

l Kéo đao phiến – thái lạng dao (拉刀法): thích hợp cho các nguyên liệu cần loại bỏ các chất dai (gân) như thái thịt cá miếng, miếng thịt heo…

clip_image008

Hình 3. Bằng đao pháp

+ Tà đao pháp (斜刀法)

Tà đao pháp là một loại đao pháp lúc sử dụng dao thì thân dao và nguyên liệu trên mặt thớt thành một góc độ nhất định. Phân thành hai loại là tà đao phiến (斜刀片) và phản đao phiến (反刀片).

l Tà đao phiến – thái nghiêng dao (斜刀片): thích hợp thái các loại nguyên liệu có tính chất mềm xốp hoặc giòn như cắt miếng cá…

l Phản đao phiến – thái ngược dao (反刀片): thường dùng thái các loại nguyên liệu thực vật có tính giòn.

clip_image009

Hình 4. Tà đao pháp

Và khi đã làm xong món ăn dọn lên bàn, thì người Trung Quốc không dùng đến dao nữa, mà tất cả đều gắp bằng đũa. Điều này cho thấy cái khác của người phương Tây, bàn ăn là không gian yên bình không dùng đến dao búa của nhà bếp, không như người phương Tây dọn ăn vẫn có cả dao để cắt ăn.

Ø Phối (pha chế)

Giai đoạn thứ hai người Trung Quốc gọi là phối, có nghĩa là pha chế. Trước khi được đưa qua lửa (đem đi nấu chín), thức ăn được phối trộn theo yêu cầu của việc ăn uống, thích hợp với tính chất của từng loại thực phẩm được dùng.

Trong ẩm thực của Trung Quốc, họ thường dựa vào triết lý Nho giáo, ngũ hành, cân bằng âm dương. Họ thường dùng phối hợp giữa nóng – lạnh, mặn – ngọt, chua cay, ngay cả thức ăn cũng mang tính cân bằng giữa chất béo và chất xơ…chính những điều này không chỉ đảm bảo đầy đủ chất, đảm bảo chất dinh dưỡng, mà còn giữ gìn sức khoẻ và tạo ra những món ngon miệng.

Đây là cả một khái niệm phức tạp mà người thuộc các nền văn hóa khác không thể nào hiểu nổi. Chỉ có các dân tộc phương Đông, trong đó có Việt Nam, chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa từ ngàn xưa, thì mới biết cách vận dụng những quy tắc đó. Riêng người Nhật thì đã phát triển thành những lí thuyết riêng trong thời hiện đại, trong đó nổi tiếng nhất là thuyết âm dương về ăn uống của nhà ẩm thực học Osaka

Ø Hỏa hầu (Cách dùng lửa) (火候)

Thứ ba chủ yếu là ngọn lửa còn gọi là hỏa hầu (火候). Món ăn Trung Quốc trong quá trình chế tác (nấu), đặc biệt chú trọng đến hỏa hầu, đây là quan niệm chủ yếu của cách nấu ăn Trung Quốc.

Làm chủ ngọn lửa hay làm chủ độ nóng, màu lửa, và thời gian lâu hay chóng. Nói chính xác hỏa hầu là thời điểm quyết định mà người nấu phải chờ và nhất là đừng để quá. Câu tục ngữ của Trung Hoa: “Bất đáo hỏa hầu bất yến khai” tạm dịch là khi chưa tới hỏa hầu thì không được mở vung.

Người đầu bếp Trung Quốc rất coi trọng đến cường độ ngọn lửa, có thể làm lửa bùng cháy to, nhưng cũng biết làm ngọn lửa cháy liu riu, theo những người am hiểu thì chỉ cần khác nhau độ nóng là có thể làm hỏng món ăn. Chúng ta có thể lấy ví dụ hết sức đơn giản như việc hấp (chưng cách thủy) xương sườn chẳng hạn, nếu thời gian hấp quá lâu, thịt sẽ bị biến chất, còn nếu chưng trong thời gian ngắn, tất nhiên là thịt chưa thể chín. Hoặc những món như kho, rim.., tất yếu phải để lửa liu riu thì mới có thể làm chín thức ăn, làm cho thức ăn có vị thơm ngon mà không bị khét…

+ Phân loại hỏa lực (火力的分类)

ü Vượng hỏa (猛火), còn gọi là vũ hỏa (武火) hay vượng hỏa (旺火), cấp hỏa (急火), là loại lửa mạnh.

ü Trung hỏa (中火), còn gọi là văn vũ hỏa (文武火), là loại lửa vừa, êm dịu.

ü Mạn hỏa (慢火), còn gọi là tiểu hỏa(小火) hoặc văn hỏa (文火), là loại lửa nhỏ, lửa thiên nhiên.

ü Vi hỏa (微火), còn có tên là nhược hỏa (弱火), là loại lửa yếu, cháy rất nhỏ.

+ Công dụng của việc hiểu biết hỏa hầu

Tác dụng của việc nắm được hỏa hầu là dựa vào yêu cầu của chế biến món ăn mà sử dụng thời gian ngắn dài các loại hỏa lực thích hợp và khoa học hợp lý.

ü Chính xác hỏa lực to nhỏ và thời gian ngắn dài khi chế biến món ăn, làm cho nguyên liệu chín đều, không bị nửa sống nửa chín hay quá lửa.

ü Các loại nguyên liệu nấu ăn nói chung sau khi thêm nhiệt thì các chất dinh dưỡng bị phân hủy. Sử dụng hỏa hầu hợp lý có thể giảm thiểu được sự mất mát các thành phần dinh dưỡng đó.

ü Hỏa hầu không đủ, thức ăn không đạt được nhiệt độ yêu cầu, không thể giết được cá loại vi khuẩn có trong nguyên liệu. Nắm được hỏa hầu, có tác dụng tiêu diệt các loại vi trùng đó.

ü Hiểu được hỏa hầu chính xác, làm cho các loại gia vị có thể dễ dàng ngấm vào thức ăn, làm cho món ăn thơm ngon, bóng đẹp, đạt yêu cầu.

Ø Gia vị

Cuối cùng là nêm gia vị. Gia vị là một trong những nguyên nhân chủ yếu hình thành nên sự khác nhau về phong vị giữa các địa phương. Gia vị trong món ăn của người Trung Quốc có rất nhiều loại. Những gia vị thường dùng có không dưới mười chín loại như: dầu vừng, dầu lac, dầu hào, đường các loại, các sản phẩm của đậu tương lên men: hắc xì dầu, tàu vị yểu, lạp chí chương, muối, ớt, các thứ dấm, rượu, nước hầm thịt… Hương vị món ăn của người Trung Quốc rất nhiều, ngoài những vị chua, cay, mặn, ngọt ra, còn có một số vị thuốc cũng có thể chế biến thành món ăn, ví dụ như hải sâm, thuốc bắc… Tất cả đã được tạo thành lịch sử văn hoá ẩm thực mấy nghìn năm của nhân dân Trung Hoa.

clip_image011

Hình 5: Một số loại gia vị chủ yếu

Trên các nguyên tắc trên việc nêm gia vị được thực hiện trong lúc đun nấu là chính, đó là quá trình chuyển biến thực sự ngay trong nồi chảo, gọi là “đỉnh trung chi biến”. Trên cơ sở là năm mùi vị cơ bản là mặn, ngọt, chua, cay và đắng có thể tạo ra vô vàn mùi vị khác nhau, mà hấp dẫn nhất đối với thực khách phương Tây là vị chua – ngọt của nhiều món xào nấu .

Các loại gia vị được dùng trong bữa ăn hàng ngày không những đem lại vị thơm ngon hấp dẫn cho món ăn mà còn có tác dụng tốt đối với sức khỏe nếu biết sử dụng đúng cách.

II.2. Nghệ thuật Bài trí món ăn và Thức uống phổ biến trong bữa ăn

II.2.1. Nghệ thuật Bài trí món ăn

Người đầu bếp trước khi bắt tay vào chế biến phải xây dựng cho mình ý tưởng trình bày, sao cho phù hợp với món ăn và các loại đĩa đựng. Các loại đĩa thường dùng gồm có như: đĩa tròn, đĩa bầu dục, đĩa vuông hoặc chữ nhật, đĩa lá… và mỗi loại đĩa, mỗi loại thực phẩm có một cách trình bày riêng, tùy từng kiểu đĩa mà người đầu bếp sẽ trang trí sao cho phù hợp. Bên cạnh đó, người đầu bếp còn phải biết kết hợp màu sắc, tạo hình dáng sao cho làm nổi bật món ăn mà không mất đi hương vị của nó.

Người ta ăn, chủ yếu là thưởng thức hương vị, bởi vậy, có thể nói rằng, hương vị của món ăn là điều quan trọng nhất. Nói thì như vậy, thế nhưng dù hương vị món ăn có ngon tới đâu, nhưng màu sắc không đẹp, hương thơm không có và cách trình bày thiếu mỹ quan, thì món ăn đó không thể được gọi là đạt yêu cầu.

Chính vì có những quy tắc khắt khe trong việc chế biến món ăn như vậy, cho nên, ta có thể nói rằng, việc chế biến món ăn của người Trung Quốc chính là một môn nghệ thuật, chả trách mà mọi người thường gọi những người đầu bếp có kỹ thuật cao tay là “Mỹ thực nghệ thuật gia”, có nghĩa là người đầu bếp tài ba.

Ø Sử dụng màu sắc

Ăn món ăn Trung Quốc, không những đem đến sự thỏa mãn về mặt khẩu vị, mà ngay cả đến thị giác cũng được hưởng thụ.

Nét chủ đạo của các món ăn Trung Quốc bao gồm có bốn đặc điểm chính, đó là sự kết hợp tinh tế giữa hương, sắc, vị và cách bày biện.

Người ta nói đồ ăn Trung Quốc rất cầu kỳ, có lẽ cũng là chính bởi do yêu cầu chặt chẽ của bốn quy định trên. Khi chế biến món ăn, người đầu bếp phải làm sao cho món ăn có màu sắc đẹp mắt, có hương thơm ngào ngạt làm say lòng thực khách, có vị ngon của đồ ăn được chế biến từ nguyên liệu tươi, và cách trình bày sao cho thật thu hút và ấn tượng.

Để món ăn có màu sắc đẹp mắt, thông thường người Trung Quốc phối hợp từ ba đến năm loại màu sắc khác nhau, chủ yếu là: xanh thẫm, xanh lá cây, màu đỏ, màu vàng, màu trắng, màu đen và hắc xì dầu (tương). Ý nghĩa của việc làm này chính là một mặt làm mất đi vị tanh và vị nồng của dầu mỡ, một mặt khác, là tăng thêm mỹ vị, khiến cho những hương vị riêng của món ăn kết hợp với nhau một cách hài hoà tạo ra một loại thực phẩm tổng hợp mà ta quen gọi là “món ăn”.

clip_image012

Hình 6: Món ăn Trung Quốc màu sắc đa dạng, đẹp mắt

Đặc trưng món ăn Trung Quốc đa phần là màu sắc đẹp mắt, đa dạng, là sự kết hợp của tập hợp nhiều loại nguyên liệu khác nhau, gây cho người ăn sự kích thích về thị giác trước tiên. Đặc biệt, người Trung Quốc rất thích chặt nhỏ nguyên liệu, và sử dụng các loại thực phẩm có màu sắc đẹp mắt như dưa leo, cà rốt, củ cải trắng, các loại rau xanh.

II.2.2. Thức uống phổ biến trong bữa ăn

Ø Rượi – Hơi men làm say lòng người

Ở Trung Quốc, rượu xuất hiện cách nay khoảng 7.000 năm, từ thời Thần Nông, ông vua huyền sử dạy dân nghề nông và trồng thảo dược. Việc trồng ngũ cốc dần dần đưa đến việc nấu rượu. Theo một thuyết khác, kỹ thuật nấu rượu bắt đầu từ đời Hạ (2100 trước công nguyên đến khoảng 1600 trước công nguyên). Các tửu khí (vật dùng đựng và uống rượu) mà các nhà khảo cổ khai quật được cho thấy từ xa xưa, rượu sớm được dùng trong cúng tế.

Tại Trung Quốc, ở bất cứ nơi nào hay vào bất cứ thời gian nào, người ta cũng có thể nhìn thấy rượu. Từ thời cổ đại cho tới ngày nay, trong lĩnh vực kinh tế, chính tri, hay văn học nghệ thuật, trong lúc bàn việc quân, y học hay bất cứ một lĩnh vực nào, ta đều có thể dễ dàng thấy sự hiện diện của rượu.

Người Trung Quốc thích uống rượu vào các dịp quan trọng như ngày Tết Nguyên đán, ngày Tết Trùng dương, ngày thôi nôi và đầy tháng của trẻ, cưới hỏi, thi đậu, thăng quan tiến chức, mừng thọ, sinh nhật, chia tay đưa tiễn… Ở miền Nam, khi sinh con gái, cha mẹ cô bé nấu rượu, cho vào bình, chôn xuống đất. Lúc con gái lấy chồng, bình rượu được đào lên làm quà mừng cô dâu.

Khi mời rượu, chủ nhân phải rót đầy tràn ly vì rót vơi sẽ bị cho là không tôn trọng khách. Phải mời bậc trưởng thượng uống trước. Người mời rượu nên đứng dậy, hai tay nâng ly. Khi cụng ly, người nhỏ tuổi (hay người có địa vị thấp hơn) phải để ly thấp hơn miệng ly người kia một chút.

Khi nâng ly thì mời mọc đẩy đưa, chúc tụng qua lại, nào là «Chúc ngài phúc như Đông hải, thọ tỷ Nam sơn», hay «tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu» (uống rượu gặp tri kỷ, ngàn ly cũng là ít).

Lúc uống thì phải làm một hơi cạn ly. Không uống được thì phải nhờ người khác uống thay để giữ thể diện. Tửu lượng kém thì nên nói trước để mọi người thông cảm, bằng không, đến lượt uống mà từ chối thì sẽ bị trách là xem thường mọi người.

Rượu của Trung Quốc có rất nhiều chủng loại khác nhau, và mỗi loại lại có một lịch sử hình thành cũng như hương vị riêng của nó. Nổi tiếng nhất Trung Quốc là rượu Mao Đài (tỉnh Quý Châu), được tôn là quốc tửu. Ngoài ra, còn có thể kể đến rượu Phần và rượu Trúc Diệp Thanh (tỉnh Sơn Tây); rượu Ngũ Lương Dịch, rượu Kiếm Nam Xuân, rượu Đại Khúc, rượu Đặc Khúc, rượu Lô Châu Lão Diếu (tỉnh Tứ Xuyên); rượu Cổ Tỉnh (tỉnh An Huy); rượu Dương Hà Đại Khúc (tỉnh Giang Tô); rượu Đồng (tỉnh Quý Châu); rượu Mỹ Vị Tư (tỉnh Sơn Đông); rượu nho đỏ Bắc Kinh, rượu nho trắng Sa Thành (tỉnh Hà Bắc); rượu nho trắng Dân Quyền (tỉnh Hà Nam); rượu nếp Thiệu Hưng (tỉnh Chiết Giang) v.v… Người Trung Quốc còn chế loại rượu thuốc hay rượu bổ như rượu nhân sâm, rượu cao hổ cốt, rượu lộc nhung, rượu rắn, rượu tráng dương bổ thận v.v… Các thầy thuốc thường pha dược liệu vào rượu vì rượu dẫn thuốc rất tốt.

Ø Trà – Thức uống của Thi nhân

Đất nước Trung Hoa nổi tiếng được mọi người biết tới không chỉ vì có dãy Vạn Lý Trường Thành mà còn vì đây được coi là quê hương đầu tiên của lá trà. Ngoài tác dung giúp giải nhiệt ra thì trà còn được coi như một loại thần dược giúp các bậc thi nhân như Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị sáng tác ra những áng thơ bất hủ vượt thời gian.

Uống trà là một văn hoá đặc biệt có từ ngàn xưa ở Trung Quốc. Nếu muốn thưởng thức trà, thưởng thức nghệ thuật pha chế và rót trà, hãy đến quốc gia đông dân nhất thế giới này.

Người Trung Quốc rất thích các sản phẩm làm từ trà, ở trong nhà uống trà, lên quán trà cũng uống trà, bắt đầu cuộc họp cũng uống trà, bạn bè gặp nhau nói chuyện cũng uống trà, thậm chí, lúc giảng đạo lý cũng uống trà, trước khi ăn sáng uống trà, sau khi ăn cơm trưa cũng uống trà”. Thói quen uống trà của người Trung Quốc đã ảnh hưởng không ít tới quốc gia. Khoảng giữa thế kỷ 17, trà của người Trung Quốc bắt đầu du nhập vào nước Mỹ.

Đối với người Trung Hoa, uống trà không chỉ đơn thuần là giải khát mà còn mang rất nhiều ý nghĩa thú vị. Đó là khoảng thời gian ngồi bên nhau của những thành viên trong gia đình, bạn bè, người thân… trò chuyện với nhau để giữ cho mối quan hệ được gắn bó bền lâu, tâm đầu ý hợp. Uống trà một mình để có phút suy ngẫm tường tận những sự việc xảy ra trong cuộc đời. Uống trà cũng là lúc thư giãn, tĩnh tâm để tinh thần luôn an lạc… và còn nhiều ý nghĩa khác nữa. Từ đó, uống trà không còn là một việc thông thường mà là cả một nghệ thuật, mà những gì liên quan đến cái thú này đều được chăm chút kỹ lưỡng, từ bình, chén uống trà đến nước pha trà, loại trà được chọn, đến chỗ ngồi, đến người bạn hiền đối ẩm…

clip_image014

Hình 7: Trà – thức uống của thi nhân

II.3. Tiểu kết

CHƯƠNG III: ẨM THỰC CỦA NGƯỜI TỨ XUYÊN TRONG QUAN HỆ ỨNG XỬ VÀ GIAO LƯU VĂN HÓA

III.1. Ứng xử với môi trường Tự nhiên

III.1.1. Tận dụng môi trường Tự nhiên

Trung Quốc có khá nhiều trường phái ẩm thực, trong đó những trường phái có ảnh hưởng và mang tính đại diện nhất được cả xã hội công nhận là các món ăn của Sơn Đông, Tứ Xuyên, Quảng Đông, Phúc Kiến, Giang Tô, Chiết Giang, Hồ Nam và An Huy. Sự hình thành của một trường phái có lịch sử lâu dài không thể tách rời với việc nấu ăn đặc sắc và độc đáo. Đồng thời, nó cũng chịu sự ảnh hưởng của địa dư, điều kiện khí hậu, đặc sản tài nguyên, thói quen ăn uống… Có người đã ví một cách nhân cách hóa về 8 trường phái món ăn này như sau: món ăn của Giang Tô, Chiết Giang có khác nào người đẹp; Giang Nam thanh tú; món ăn của Sơn Đông, An Huy là một trang nam nhi mộc mạc chất phác; món ăn của Quảng Đông, Phúc Kiến thì nhã nhặn như vị công tử phong lưu còn món ăn của Tứ Xuyên, Hồ Nam thì chẳng khác nào một vị danh sĩ tài ba.

Trong các trường phái ẩm thực của Trung Quốc thì các món ăn của Tứ Xuyên là được phổ biến rộng rãi nhất. Trường phái ẩm thực này ra đời vào thời Trung Quốc bắt đầu thống nhất vào thế kỷ III trước Công nguyên cho tới thời Tam Quốc, thế kỷ III sau Công nguyên. Nhiều hiện vật khảo cổ tìm thấy liên quan đến ẩm thực như bát đĩa bằng gốm và đồng, nhiều dụng cụ nấu bếp.

clip_image016

Hình 8: Vị trí địa lý vùng Tứ Xuyên

Cho đến nay nó là trường phái ẩm thực nổi danh và có một nền lịch sử lâu đời ở Trung Hoa. Trường phái này nổi tiếng ở các vương triều Trung Hoa cổ đại với việc chế biến các món cá, chè, mật ong và hoa quả. Tứ Xuyên ẩm thực gồm hai trường phái: Thành Đô và Trùng Khánh. Khẩu vị chính của bếp là mặn và cay.

clip_image018clip_image020

Hình 9: Đậm đà là điều dễ dàng nhận thấy ở trường phái ẩm thực này

Tứ Xuyên từ xưa đã có tiếng là “Tỉnh giàu có”. Đây là một trong những nơi sản xuất nông nghiệp chính của Trung Quốc. Sản lượng ngũ cốc gồm lúa gạo và lúa mì của Tứ Xuyên đứng hàng đầu toàn Trung Quốc năm 1999. Thu hoạch từ các loại rau quả; cam, chanh, mía đường, khoai lang, và hạt cải dầu… cũng đáng kể. Do đó, rau quả, thực phẩm phong phú, tươi ngon chính là điểm nhấn trong ẩm thực vùng Tứ Xuyên.

Tận dụng nguồn thực phẩm dồi dào, Tứ Xuyên nổi tiếng với nền ẩm thực phong phú về nguyên liệu và thực phẩm thuộc loại tươi ngon bậc nhất. Do dồi dào về nguyên liệu nên ẩm thực Tứ Xuyên cũng khá chú trọng đến sắc, hương và vị. Các món ăn được chế biến, trộn lẫn hài hoà giữa các màu sắc của nhiều loại hoa quả, nhiều vị tê, cay, ngọt mặn, chua, đắng, thơm trộn lẫn khéo léo, biến hóa linh hoạt.

clip_image022clip_image024clip_image025

Hình 10: Các món ăn Tứ Xuyên với nhiều màu sắc và nguyên liệu

Đặc biệt phải kể đến món lẩu Tứ Xuyên nổi tiếng. Với lẩu Tứ Xuyên, nước dùng rất quan trọng vì nó tạo nên sự đậm đà cho cả nồi lẩu. Một nồi nước dùng ngon phải đảm bảo được độ trong của nước, vị chua, cay, mặn, ngọt của các loại gia vị để tất cả hòa quyện với nhau tạo thành một vị riêng đặc sắc kiểu Tứ Xuyên. Đồ nhúng trong món lẩu này lên tới vài chục loại khác nhau trong đó chủ yếu là các loại thịt và nội tạng của bò, gà, heo cho tới hải sản như tôm, mực, hải sâm, bào ngư, một vài loại nấm, váng đậu, đậu phụ và các loại rau. Rau ăn kèm trong món lẩu Tứ Xuyên cũng rất đa dạng, tùy theo mùa nào thức ấy mà nhà hàng chọn những loại rau, củ phù hợp. Kèm với lẩu là các loại mỳ, miến, bánh đa…Ngoài ra khi ăn lẩu Tứ Xuyên, thực khách sẽ được thưởng thức món dưa bắp cải trắng ngần muối nén chua, cay, mặn dịu

Những món ăn ở vùng Tứ Xuyên còn có nhiều kiểu cách đổi mùi vị, phù hợp với khẩu vị của từng thực khách, thích hợp với từng mùa, từng kiểu khí hậu trong năm. Tiêu biểu như món bò trụng.

Món thịt bò trụng này xuất xứ từ một làng muối ở tỉnh Tứ Xuyên. Ngày xưa người dân của làng muối đều dùng bò để chuyên chở hoặc thồ muối,vì lúc đó chưa có phương tiện giao thông như bây giờ. Khi những chú bò này bắt đầu yếu đi, không thể dùng trong công việc thồ muối nữa thì người dân xẻ thịt chúng để ăn. Người ta cắt lát thịt bò, cho vào thêm tiêu ớt,và mang trụng nước sôi để ăn. Thịt bò mềm rất thơm ngon nên món ăn được lưu truyền rộng rãi thành món ngon có tiếng trong dân gian. Sau này nhiều nhà bếp của nhà hàng dùng món thịt bò trụng này,thêm bớt gia vị để cải biến cho món ăn thêm ngon hơn, nên món ăn này đã trở thành một món ăn đặc sắc của người dân Tứ Xuyên.

clip_image027

Hình 11: Bò trụng là một trong những đặc sản của làng muối Tứ Xuyên

Với lịch sử tồn tại lâu đời, nền ẩm thực ở đây đã tích lũy các phương thức chế biến và đưa ẩm thực nơi đây trở thành một nghệ thuật. Món ăn Tứ Xuyên chú trọng đến sắc, hương, vị hình với khá nhiều vị tê, cay, ngọt mặn, chua, đắng, thơm trộn lẫn khéo léo, biến hóa linh hoạt.

Theo đà sản xuất và phát triển kinh tế phồn vinh, các món ăn Tứ Xuyên trên cơ sở vốn có, đã hấp thụ sở trường của các món ăn Nam Bắc, cũng như ưu điểm riêng của các bữa tiệc quan chức và nhà buôn hình thành nên các đặc điểm độc đáo của món ăn Tứ Xuyên. Chính vì vậy mà người ta thường ví von “thực tại Trung Quốc, vị tại Tứ Xuyên”.

Là một trong 3 thành phố có khí hậu nóng nhất và là trung tâm kinh tế

III.1.2. Thích nghi môi trường Tự nhiên

Các món ăn Tứ Xuyên rất coi trọng về thay đổi mùi vị, phân biệt rõ đậm nhạt, nặng nhẹ. Món ăn Tứ Xuyên không thể tách rời với ớt, hoa tiêu và hạt tiêu. Có khá nhiều cách sử dụng ớt và rất linh hoạt, khi thì dùng làm nguyên liệu chính, khi thì chỉ dùng làm phối liệu, nhưng phần lớn là dùng làm gia vị. Món ăn Tứ Xuyên cũng có khá nhiều kiểu cách đổi mùi vị, vừa phù hợp với từng khẩu vị của người ăn, cũng thích hợp với mỗi mùa khí hậu khác nhau như: Mùa đông và mùa xuân khí hậu rét mướt thì dùng vị ớt nhiều hơn. Còn mùa hạ và mùa thu khí hậu nóng bức thì vị ớt phải giảm đi ba phần. Một đặc điểm lớn nhất của món ăn Tứ Xuyên là khéo điều chỉnh mùi vị, khẩu vị có nồng có nhạt, trong nồng có nhạt, trong nhạt có nồng, nồng nhưng không ngấy, nhạt nhưng không bạc, Do đó, món ăn Tứ Xuyên không những lắm vị và nồng hậu, mà còn có sở trường về mặt thanh, tươi, đạm, nhã, khiến người ăn đều tấm tắc khen ngợi và thật khó quên .

Người Tứ Xuyên ở thượng du sông Trường Giang nổi tiếng vì ăn ớt. Tê cay là vị chủ đạo trong món ăn Tứ Xuyên. Người Tứ Xuyên đặc biệt giỏi trong việc chế biến ra vị cay của món ăn. Trong đó, lẩu Tứ Xuyên là món ăn tiêu biểu để lại ấn tượng trong lòng nhiều du khách.

Tương truyền rằng, lẩu Tứ Xuyên là do những người đi thuyền trên sông Trường Giang phát minh ra. Vào thời cổ đại, vận tải đường thủy là tuyến đường giao thông quan trọng. Để thuận tiện, những người lái tàu quanh năm trên bến cảng đã bỏ tất cả các loại thực phẩm vào nấu trong một cái nồi và cho thêm ớt. Phương pháp chế biến ấy không chỉ đem lại vị ngon đặc biệt khi ăn mà còn giúp họ tránh được gió lạnh.

Dần dần cách làm này được truyền vào đất liền. Có câu nói rằng: Tất cả những gì bay trên trời trừ máy bay, tất cả những gì chạy trên mặt đất trừ xe hơi, tất cả những gì bơi dưới nước trừ tàu thuyền, đều được người Tứ Xuyên bỏ vào nồi lẩu đun nóng.

III.2. Ứng xử với môi trường Xã hội

III.3. Ứng xử với thế giới Siêu nhiên

III.3.1. Ăn chay

Trung Quốc là quốc gia có nền Phật Giáo Đại thừa phát triển mạnh mẽ và ăn sâu vào trong đời sống của người dân. Vì vậy, việc ăn chay của người Tứ Xuyên cũng cùng chung quan điểm với người dân Trung Quốc. Ăn chay là chỉ ăn những thức ăn thuộc thực vật, như rau cải, các loại đậu…, không phải các loại thuộc động vật như thịt cá.

Mục đích cũa sự ăn chay là làm tăng trưởng lòng từ bi, giảm bớt lòng sân hận, bằng cách tu tập không sát sinh, biết thương yêu người đồng loại và ngay cả các loài vật khác. Nổi bật trong các món ăn được chế biến theo cách ăn chay là món Đậu hủ Tứ Xuyên.

Đậu phụ được chế biến từ hạt đậu lành, giàu prôtein, có axit béo không no và béo, có cả muối vôcơ, chất chống ung thư. Nhiều năm nay người Tứ Xuyên thấu hiểu điều đó và không ngừng sáng tạo làm cho món Đậu phụ ngày thêm thơm ngon bổ dưỡng.

Đậu phụ là đặc sản nổi tiếng của vùng đất Tứ Xuyên – món ăn dân dã mộc mạc có lịch sử hơn 100 năm nay với tên gọi ban đầu là “đậu phụ bà chủ Trần” thời nhà Thanh.

Xưa kia bên cầu Vạn Phúc ngoại thành Bắc Kinh có một quán cơm nổi tiếng mang tên họ Trần do một người phụ nữ làm chủ. Khách thập phương qua đây dừng chân nghỉ lại quán nhờ bà chủ chế biến đậu thành món ăn. Không ngờ đậu phụ đã được nhà họ Trần với một kỹ thuật đặc biệt, ai nếm thử cũng tấm tắc khen ngon. Đậu phụ bà chủ Trần nức danh từ đó. Hiện giờ nếu qua Tứ Xuyên Trung Quốc chúng ta vẫn có cơ hội được thưởng thức món “ đậu phụ Trần” chính hiệu.

Nguyên liệu làm nên món ăn thơm ngon ấy thật đơn giản: đậu phụ tươi, hành khô, thêm bột ớt, hạt tiêu, muối, tương, xì dầu. Đơn giản là thế nhưng vận dụng sao cho khéo công thức để có một đĩa đậu phụ chính hiệu như đậu phụ Trần quả là không đơn giản. Miếng đậu phải mềm mà không nát, mùi thơm béo ngậy. Trước khi cho vào chế biến nên ngâm qua nước muối để loại bỏ mùi ngái của đỗ tương và giúp đậu giữ nguyên miếng khi chế biến. Các bước chế biến phải hết sức cẩn thận tỉ mỉ…. Theo nhà Trần đặc sắc của đậu phụ được khái quát trong tám hương, vị: tê, cay, nóng bỏng, thơm, giòn, mềm, tươi, tái.

clip_image029Đậu phụ Tứ Xuyên đã, đang và sẽ sống mãi trong lòng văn hoá ẩm thực văn hoá Trung Hoa. Không chỉ thế món đậu phụ còn có sức ảnh hưởng rộng rãi tới nền ẩm thực các nước bạn bè. Từ món đậu phụ Tứ Xuyên, người Việt Nam ta đã chế biến thành nhiều món ăn khác nhau, phù hợp hơn với nến ẩm thực Việt

Hình 12: Đậu hũ Tứ Xuyên

clip_image031

Hình 13: Vị cay nồng của Đậu hũ Tứ Xuyên

III.3.2. Nghệ thuật tạo hình và tín ngưỡng qua món ăn

Nếu Sơn Đông – đệ nhất Trung Hoa ẩm thực với sự bành trướng và tác động mạnh mẽ như “một chàng trai khỏe mạnh” thì ẩm thực Tứ Xuyên lại đằm thắm và phổ biến hơn cả.

Trong các trường phái ẩm thực của Trung Quốc thì các món ăn của Tứ Xuyên là được phổ biến rộng rãi nhất. Thời Trung Quốc bắt đầu thống nhất vào thế kỷ III trước Công nguyên cho tới thời Tam Quốc, thế kỷ III sau Công nguyên, trường phái ẩm thực Tứ Xuyên đã ra đời.

Món ăn Tứ Xuyên có lịch sử lâu dài, hương vị độc đáo, rất có tiếng tăm ở trong và ngoài nước. Nó đặc biệt chú trọng về sắc, hương, vị, hình, mà nhất là có khá nhiều khẩu vị và nồng đậm gồm : Tê, cay, mặn, ngọt, chua, đắng, thơm , trộn lẫn khéo léo, biến hóa linh hoạt, đã pha chế ra mấy chục vị phức hợp rất độc đáo như: Tê cay, Chua cay, Dầu đỏ, Dầu trắng v v. Nhiều khẩu vị lại khéo chế biến, nên đã được xếp hàng đầu trong các món ăn ở trong và ngoài nước, được gọi là mỗi món một khác, trăm món trăm vị.

Phương pháp nấu của các món ăn Tứ Xuyên là khéo dựa vào các điểu kiện nhiên liệu, khí hậu và thực khách, vận dụng linh hoạt tình hình cụ thể, trong cách nấu ăn có hơn 30 phương pháp gồm: Xào, rán, chiên, kho, ướp, nộm, muối v v.

Theo đà sản xuất phát triển và kinh tế phồn vinh, các món ăn Tứ Xuyên trên cơ sở vốn có, đã hấp thu sở trường của các món ăn nam bắc, cũng như ưu điểm của các bữa tiệc quan chức và nhà buôn, hình thành đặc điểm món ăn miền bắc nấu theo kiểu Tứ Xuyên, món ăn miền nam mang hương vị Tứ Xuyên, nên mới được gọi là “Thực tại TQ, vị tại Tứ Xuyên”.

Các món ăn Tứ Xuyên rất coi trọng về thay đổi mùi vị, phân biệt rõ đậm nhạt, nặng nhẹ. Món ăn Tứ Xuyên không thể tách rời với ớt, hoa tiêu và hạt tiêu. Có khá nhiều cách xử dụng ớt và rất linh hoạt, khi thì dùng làm nguyên liệu chính, khi thì chỉ dùng làm phối liệu, nhưng phần lớn là dùng làm gia vị. Món ăn Tứ Xuyên cũng có khá nhiều kiểu cách đổi mùi vị, vừa  phù hợp với từng khẩu vị của người ăn, cũng thích hợp với mỗi mùa khí hậu khác nhau như: Mùa đông và mùa xuân khí hậu rét mướt thì dùng vị ớt nhiều hơn. Còn mùa hạ và mùa thu khí hậu nóng bức thì vị ớt phải giảm đi ba phần. Một đặc điểm lớn nhất của món ăn Tứ Xuyên là khéo điều chỉnh mùi vị, khẩu vị có nồng có nhạt, trong nồng có nhạt, trong nhạt có nồng, nồng nhưng không ngấy, nhạt nhưng không bạc, Do đó, món ăn Tứ Xuyên không những lắm vị và nồng hậu, mà còn có sở trường về mặt thanh, tươi, đạm, nhã, khiến người ăn đều tấm tắc khen ngợi và thật khó quên .

Cho đến nay nó là trường phái ẩm thực nổi danh và có một nền lịch sử lâu đời ở Trung Hoa. Trường phái này nổi tiếng ở các vương triều Trung Hoa cổ đại với việc chế biến các món cá, chè, mật ong và hoa quả. Nếu bạn yêu thích hương vị mặn mà, cay nồng thì không thể bỏ qua các món ngon trứ danh ở Tứ Xuyên.

clip_image032clip_image033

Hình 14:Đậm đà là điều dễ dàng nhận thấy ở trường phái ẩm thực này

Tứ Xuyên ẩm thực gồm hai trường phái: Thành Đô và Trùng Khánh. Khẩu vị chính của bếp là mặn cay. Nhiều hiện vật khảo cổ tìm thấy liên quan đến ẩm thực như bát đĩa bằng gốm và đồng, nhiều dụng cụ nấu bếp.

Với lịch sử tồn tại lâu đời, nền ẩm thực ở đây đã tích lũy các phương thức chế biến và đưa ẩm thực nơi đây trở thành một nghệ thuật. Món ăn Tứ Xuyên chú trọng đến sắc, hương, vị hình với khá nhiều vị tê, cay, ngọt mặn, chua, đắng, thơm trộn lẫn khéo léo, biến hóa linh hoạt.

Là một trong 3 thành phố có khí hậu nóng nhất và là trung tâm kinh tế, Tứ Xuyên nổi tiếng với nền ẩm thực dồi dào nguyên liệu và thực phẩm thuộc loại tươi ngon bậc nhất.

Sẽ là thiếu sót lớn nếu trong các món ăn nổi tiếng của Tứ Xuyên lại không kể đến vịt quay. Vịt quay ngon phải là có lớp da chín màu bánh mật giòn rụm, vịt béo mà không hề ngấy, thịt bên trong mềm như trứng luộc, có vị ngọt, đậm, chấm với nước chấm được tiết ra từ trong con vịt.

clip_image035

Hình 15: Vịt quay Tứ Xuyên

Lớp da chín giòn rụm mà không hề béo ngấy

Vịt quay Tứ Xuyên mang vị đậm đà theo phong cách nơi đây: cay và nhiều gia vị đậm đặc. Là một trong những mon ăn ngon mà người dân nơi đây tự hào giới thiệu với du khách khi đến với Tứ Xuyên.

clip_image036clip_image038

Hình 16: Vịt quay Tứ Xuyên

Để chế biến thành công món vịt quay cũng rất công phu, phải chuẩn bị kỹ lưỡng từ khâu chọn nguyên liệu đến khâu chế biến. Và cách thưởng thức cũng rất đa dạng. Nhưng dù được thưởng thức theo cách nào thi vẫn giữ được hương vị thơm ngon độc đáo của vịt quay Tứ Xuyên.

Không chỉ thế, những món ăn ở đây còn có nhiều kiểu cách đổi mùi vị, phù hợp với khẩu vị của từng thực khách, thích hợp với từng mùa, từng kiểu khí hậu trong năm.

Chẳng hạn như món bò. Ngày xưa người dân làng muối ở Tứ Xuyên đều dùng con bò để chở hoặc thồ muối, khi chúng yếu đi sẽ mổ thịt để ăn, và xuất hiện món bò trụng nổi tiếng.

Món thịt bò này không phải dùng dầu để xào,mà là nhúng những miếng thịt vào nước súp cay để mà ăn,món ăn rất đậm đà,mùi vị rất thơm và thịt bò rất tươi ngọt,đặc biệt rất cay,nên đã tạo nên phong vị cho món bò trụng cay tê này.

Ngoài ra, những món ăn dân dã như đậu phụ, đậu phụ thối qua bàn tay của bếp Tứ Xuyên cũng trở nên hấp dẫn lạ thường.

Theo đà sản xuất và phát triển kinh tế phồn vinh, các món ăn Tứ Xuyên trên cơ sở vốn có, đã hấp thụ sở trường của các món ăn Nam Bắc, cũng như ưu điểm riêng của các bữa tiệc quan chức và nhà buôn hình thành nên các đặc điểm độc đáo của món ăn Tứ Xuyên. Chính vì vậy mà người ta thường ví von “thực tại Trung Quốc, vị tại Tứ Xuyên”.

III.3.3. Ẩm thực ngày giỗ, lễ và tết

Tết của người Tứ Xuyên ko thể thiếu món Lẩu. Lẩu Tứ Xuyên là 1 trong 5 món ăn cay nhất trên thế giới.

Người ta hay nói vui : Trước khi nếm thử một thìa súp lẩu Tứ Xuyên, hãy chuẩn bị sẵn một chiếc khăn tay vì bạn sẽ khóc trong vài phút nữa thôi. Chỉ cần ngửi mùi nước lẩu sôi thôi bạn cũng đã đủ “khóc” rồi!

Có câu: Tất cả những gì bay trên trời trừ máy bay, tất cả những gì chạy trên mặt đất trừ xe hơi, tất cả những gì bơi dưới nước trừ tàu thuyền, đều được người Tứ Xuyên bỏ vào nồi lẩu đun nóng. Lẩu Tứ Xuyên chỉ là một trong vô số món ăn thể hiện sự sáng tạo (thậm chí táo bạo) và tinh tế của người Trung Hoa. ‘Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây…’, từ lâu, món ăn TQ đã nổi tiếng về sự đa dạng và hương vị thơm ngon.

Người Tứ Xuyên ở thượng du sông Trường Giang nổi tiếng vì ăn ớt. Tê cay là vị chủ đạo trong món ăn Tứ Xuyên. Người Tứ Xuyên đặc biệt giỏi trong việc chế biến ra vị cay của món ăn. Trong đó, lẩu Tứ Xuyên là món ăn tiêu biểu để lại ấn tượng trong lòng nhiều du khách.

Tương truyền rằng, lẩu Tứ Xuyên là do những người đi thuyền trên sông Trường Giang phát minh ra. Vào thời cổ đại, vận tải đường thủy là tuyến đường giao thông quan trọng. Để thuận tiện, những người lái tàu quanh năm trên bến cảng đã bỏ tất cả các loại thực phẩm vào nấu trong một cái nồi và cho thêm ớt. Phương pháp chế biến ấy không chỉ đem lại vị ngon đặc biệt khi ăn mà còn giúp họ tránh được gió lạnh.

clip_image040Dần dần cách làm này được truyền vào đất liền. Có câu nói rằng: Tất cả những gì bay trên trời trừ máy bay, tất cả những gì chạy trên mặt đất trừ xe hơi, tất cả những gì bơi dưới nước trừ tàu thuyền, đều được người Tứ Xuyên bỏ vào nồi lẩu đun nóng.

clip_image042

Hình 17: Hương vị cay nồng của Lẩu Tứ Xuyên

III.3.4. Văn hóa ẩm thực Tứ Xuyên trong quá trình Giao lưu và Hội nhập

Trung Quốc có tổng cộng 8 trường phái ẩm thực khác nhau, đến từng vùng, miền du khách sẽ được thưởng thức những hương vị khác nhau của mỗi một món ăn. Nhưng để thưởng thức món ăn Trung Hoa cũng phải có nghệ thuật. Đó gọi là nghệ thuật thưởng thức món ăn. Vì thế mới nói khi thưởng thức món ăn Trung Quốc thì phải biết cách thưởng thức. Đó là món ăn gì? ở vùng nào? ăn như thế nào? Mỗi trường phái ẩm thực Trung Quốc lại có những đặc điểm khác nhau, dựa vào từng vùng, cách chế biến, khẩu vị và nhiều đặc điểm khác nữa để tạo nên phong cách riêng. Ở đây chỉ nói về thưởng thức ẩm thực Tứ Xuyên, trong 8 trường phái ẩm thực Trung Quốc thì trường phái ẩm thực Tứ Xuyên là được phổ biến rộng rãi hơn cả. Món ăn Tứ Xuyên có lịch sử lâu đời, hương vị độc đáo, rất có tiếng tăm ở trong và ngoài nước. Nó đặc biệt chú trọng về sắc, hương, vị, hình.

Màu sắc món ăn phải tươi, từ lúc chế biến đến khi làm xong món ăn tỏa ra mùi thơm điếc mũi, các món ăn cũng được trang trí rất đẹp và bắt mắt. Phương pháp chế biến dựa vào các điều kiện nhiên liệu, khí hậu, thực khách công với việc vận dụng linh hoạt khéo léo của từng đầu bếp. Từ đó hình thành nên rất nhiều phương pháp chế biến: luộc, nhúng, ninh, xào, hấp… Ẩm thực Tứ Xuyên không chỉ kế thừa nền ẩm thực sẵn có mà trong quá trình giao lưu, tiếp xúc đã khéo léo hấp thụ tinh hoa của các nền ẩm thực nam_ bắc tạo nên phong cách ẩm thực mang phong cách Tứ Xuyên. Vì thế nên mới có câu nói: “ thực tại Trung Quốc, vị tại Tứ Xuyên”. Nhưng dù thế nào, phong cách ẩm thực Tứ Xuyên cũng mang hương vị riêng của vung đất này, đó là vị đậm và cay. Nếu ai ưa thích vị cay thì không thể bỏ qua các món ăn Tứ Xuyên.

Một trong những món ăn làm nên thương hiệu Tứ Xuyên đó là vịt quay Tứ Xuyên. Vịt quay là món ăn rất nổi tiếng cua Trung Quốc, không chỉ có ở Tứ Xuyên, vịt quay còn là đặc sản ở Bắc Kinh, Quảng Đông… Ở mỗi một vùng lại có cách chế biến khác nhau và mang hương vị khác nhau, ngay cả việc thưởng thức cũng khác nhau. Vịt quay ở Tứ Xuyên có đăc điểm là cay và nhiều gia vị đậm đặc. Vịt quay ngon phải là có lớp da chín màu bánh mật giòn rụm, vịt béo mà không hề ngấy, thịt bên trong mềm như trứng luộc, có vị ngọt, đậm, chấm với nước chấm được tiết ra từ trong con vịt. Để thưởng thức món vịt quay chính gốc Tứ Xuyên, thực khách cũng nên thưởng thức theo cách của người Tứ Xuyên.

Chặt vịt thành miếng bày vào đĩa to, dưới lót rau xà lách, xếp thành con vịt đang bơi. Xung quanh đĩa bày cà chua, dưa chuột thái mỏng trang trí cho đẹp.. Dùng với nước chấm được lấy ra từ mình con vịt. Người Trung Quốc thường ăn thịt vịt với bánh bao chay rất ngon.

Ngoài ra, người Tứ Xuyên còn một cách thưởng thức vịt quay khác cũng rất hấp dẫn. Đó là cắt thành từng lát, ăn kèm với bánh bao mềm nho nhỏ và bánh phồng tôm cùng với nước sốt chua ngọt. Đồ uống kèm theo là rượu chát đỏ.

Ngoài cách dùng nước chấm được lấy từ mình của con vịt, còn có thể dùng nước đó cho vào nồi đun sôi hòa với bột năng và nước vào làm cho nước sánh hơn để chấm

III.4. Tiểu kết

KẾT LUẬN

Ẩm thực không những là một phần thiết yếu của cuộc sống mà nó còn là một mảnh ghép không thể tách rời của văn hóa. Ngay từ đầu người Trung Quốc đã quan niệm ẩm thực là động lực ban đầu để phát triển văn hóa.Từ rất sớm Trung Quốc đã hình thành vững chắc những quan niệm “礼乐文化始于食”(lễ nhạc văn hóa thủy vô thực).

Ẩm thực Trung Quốc không chỉ để ăn, không chỉ là để phục vụ cho việc sinh tồn. Mà ẩm thực Trung Quốc còn là một thể loại nghệ thuật tinh tuý của người dân Trung Hoa. Các món ăn của Trung Hoa còn được coi như một tác phẩm nghệ thuật, để ngắm, để thưởng thức bằng cả sáu giác quan chứ không chỉ đơn thuần bằng miệng bằng mũi.

“ Tứ đại thái hệ” của ẩm thực Trung Quốc, được coi là những viên ngọc tinh tuý nhất trong “ Bát đại thái hệ”. Mỗi đại thái hệ đều có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời. Vào khoảng trước thời kỳ nhà Tần, ẩm thực Trung Quốc đã có sự phân biệt rõ rệt về khẩu vị giữa các vùng miền.

Những món ăn trong “ Tứ đại thái hệ” đều đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, và có quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên, điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, của vùng miền đó, đặc biệt là sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa cũng như ngành công nghiệp ẩm thực thành thị trong những năm cuối của xã hội phong kiến Trung Quốc, đã có những tác dụng thúc đẩy nhất định đối với việc định hình, phong phú và hoàn thiện đối với món ăn của mỗi thái hệ.

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.Bản đồ vùng Tứ Xuyên – Trung Hoa

Hình 2. Xí đao pháp

Hình 3. Bằng đao pháp

Hình 4. Tà đao pháp

Hình 5: Một số loại gia vị chủ yếu

Hình 6: Món ăn Trung Quốc màu sắc đa dạng, đẹp mắt

Hình 7: Trà – thức uống của thi nhân

Hình 8: Vị trí địa lý vùng Tứ Xuyên

Hình 9: Đậm đà là điều dễ dàng nhận thấy ở trường phái ẩm thực này

Hình 10: Các món ăn Tứ Xuyên với nhiều màu sắc và nguyên liệu

Hình 11: Bò trụng là một trong những đặc sản của làng muối Tứ Xuyên

Hình 12: Đậu hũ Tứ Xuyên

Hình 13: Vị cay nồng của Đậu hũ Tứ Xuyên

Hình 14:Đậm đà là điều dễ dàng nhận thấy ở trường phái ẩm thực này

Hình 15: Vịt quay Tứ Xuyên

Hình 16: Vịt quay Tứ Xuyên

Hình 17: Hương vị cay nồng của Lẩu Tứ Xuyên


TÀI LIỆU THAM KHẢO

l Vũ Dương Ninh (2007), “Lịch sử văn minh thế giới”, – H NXB Giáo Dục

l Will Durant (Nguyễn Hiến Lê, dịch) (2006), “Lịch sử văn minh Trung Hoa”, H:NXBVăn hóa Thông tin.

l Phạm Khang, Lê Minh (2011), “Tìm hiểu Văn hóa Trung Hoa”, – H: NXB Văn hóa Thông tin.

l Đường Đắc Dương (Cb) (2003), Cội nguồn văn hóa Trung Hoa”, – H: NXB Hội nhà văn.

l Nguyễn Dược (Cb)(1998), “Tìm hiểu địa lý Trung Quốc, – H:NXB Giáo dục.

l Phùng Quốc Siêu (Cb)(2004), “ Lịch sử văn minh Trung Hoa, – H:NXB Văn hóa thông tin.

l Hà Thiện Thuyên (2007), “Tập Tục Ẩm Thực Của Người Trung Hoa”, – H:NXB Thanh Hóa.

l Trần Ngọc Thêm (2011) (Tập bài giảng), “Văn hóa Trung hoa và Ảnh hưởng của nó trong Khu vực”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp.HCM.

l Trần Ngọc Thêm (2006), “Tìm về Bản sắc Văn hóa Việt Nam”, – Tp.HCM: NXB Thành phố Hồ Chí Minh.

l Nguyễn Bá Hoàn (2003), “Tinh hoa văn hóa phương Đông – Trà luận, -Tp.HCM:NXB Thành phố Hồ Chí Minh.

l Đông A Sáng (biên dịch) (2005), Rượu & văn hóa Trung Quốc, – H: NXBVăn hóa Thông tin.

l Nguyễn Văn Căn (2004), Lễ tết cổ truyền ở Trung Quốc: Sự tích và tập tục”, – H: Khoa học Xã hội.

l Vương Kiến Huy, Dịch học Kim (2004), Tinh hoa tri thức văn hóa Trung Quốc”, – H: NXB Thế giới.

l Nguyễn Tôn Nhan (2002), Bách khoa thư văn hóa cổ điển Trung Quốc”, – H:NXB Văn hóa Thông tin.

www.vae.org.vn (Trang web chính thức của Tạp chí Văn hoá nghệ thuật ăn uống (Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam).

http://www.vietnamchefs.com/vi/kien-thuc-am-thuc/am-thuc-khap-noi/431-am-thuc-tu-xuyen.html

http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%A9_Xuy%C3%AAn

http://www.chinaculture.org/gb/en_museum/2003-09/24/content_30239.htm (Link to the Li Bai Museum at Zhongba Town of northern Jiangyou County.)

http://87tunghia.4rumer.com/t500-topic

http://www.monngonhanoi.com/index.php?option=com_content&view=article&id=295:nghe-thuat-am-thuc-trung-hoa&catid=5:am-thuc-bon-http://www.toquoc.gov.vn/Thongtin/Am-Thuc-Nhan-Loai/Van-Hoa-Am-Thuc-Cua-Nguoi-Trung-Hoa.html phuong&Itemid=8

http://kenh14.vn/c35/20100813114440143/net-tinh-tuy-trong-nghe-thuat-bai-tri-mon-an-chau-a.chn

http://www.toquoc.gov.vn/Thongtin/Am-Thuc-Nhan-Loai/Van-Hoa-Am-Thuc-Cua-Nguoi-Trung-Hoa.html

Đã đến lúc chúng ta phải thừa nhận rằng, tỷ lệ trẻ hư đang tăng lên và tất nhiên là kéo theo tỷ lệ phạm tội tuổi thành niên. Bài viết này cũng hướng tới việc giáo dục trẻ hư chứ không phải là giáo dục nói chung.

Tôi là một độc giả của VnExpress từ đã khá lâu rồi. Tôi đã từng đọc nhiều bài viết đầy tâm huyết của bạn đọc về vấn đề giáo dục. Và cũng trên VnExpress, tôi đã và đang nhận ra sự đi xuống của nhân cách trong giới trẻ Việt Nam. Đã đến lúc chúng ta phải thừa nhận rằng, tỉ lệ trẻ hư đang tăng lên và tất nhiên là kéo theo tỉ lệ phạm tội tuổi thành niên. Tất nhiên tôi hoàn toàn không nói rằng trẻ hư là đa số. Bài viết này cũng hướng tới việc giáo dục trẻ hư chứ không phải là giáo dục nói chung. Những vấn nạn về đạo đức giáo viên tôi cũng xin phép không nhắc tới.

Một lần nữa xin nhắc lại, bài viết này chỉ nói về trẻ hư và giáo dục trẻ hư.
Tôi là một người còn trẻ tuổi và không phải là một nhà giáo. Tuy tôi đã từng đứng trên bục giảng của trường đại học nhưng chưa bao giờ tôi thực sự là một người làm nghề dạy học. Tuy vậy, bà tôi và mẹ tôi đều là giáo viên. Tôi còn có hai người cô, một người chú làm nghề dạy học; một người bác làm trong lĩnh vực giáo dục. Tôi cũng đã thấy được rằng tất cả những người thân này của tôi đều là những giáo viên được kính trọng, được quý mến. Hay ít ra là tôi chưa bao giờ thấy học trò hay phụ huynh của học trò trách móc người thân tôi. Nhưng cũng chính những người thân này của tôi, trong những lần đàm đạo với những nhà giáo khác, than thở rằng: Học trò bây giờ không ‘dạy’ nổi nữa.
Tôi thực sự muốn hỏi bạn đọc VnExpress rằng: Nhà giáo hiện nay nhận được gì? Có quyền gì? Có chức năng gì?
Tôi xin trả lời theo những gì tôi biết:

Nhà giáo hiện nay nhận được đồng lương ít ỏi, nhận được sự ủy thác một cách vô trách nhiệm của nhiều bậc phụ huynh, nhận được sự chỉ trích của xã hội khi có bất kỳ vấn đề gì xảy ra và nhận được những đứa trẻ được bao bọc quá mức bởi cha mẹ. Họ không có quyền gì ngoài hạ hạnh kiểm và trình bày vấn đề lên ban giám hiệu. Họ có chức năng bơm kiến thức khô khan vào đầu học trò để các em có thể lên lớp và ra trường.
Hình ảnh nhà giáo như vậy có thể khác với những gì các bạn tưởng tượng ra theo khuôn mẫu của một nhà giáo lý tưởng. Nhưng đó là hình ảnh thực sự của đa phần nhà giáo hiện nay. Chuyện lương giáo viên thì ta không cần dẫn chứng gì nhiều. Nó quá rõ ràng và nó hiển hiện ngay trước mắt chúng ta; không ai có thể phủ nhận. Tất nhiên, tiền dạy thêm, tiền làm ngoài giờ có thể khiến thu nhập của họ khá hơn rất nhiều. Thế nhưng “dạy thêm” tức là làm ngoài giờ, tức là ngoài những giờ làm việc chính thức họ phải bỏ thời gian đáng nhẽ dành để nghỉ ngơi ra để mà kiếm thêm nhu nhập. Có ai trong chúng ta muốn làm việc tới 8-10 giờ tối trong khi giờ tan sở là 5 giờ?
Hãy tiếp tục nói về sự ủy thác. Có bao nhiêu bậc phụ huynh ngồi lại cùng giáo viên để bàn bạc cách dạy dỗ con mình? Có bao nhiêu bậc phụ huynh khi nhận ra khuyết điểm của con mình tìm đến giáo viên để cùng tìm đường lối uốn nắn? Hay đa phần các bậc phụ huynh chỉ đem một cái phong bì đến và “trăm sự nhờ cô”? Không biết đã bao nhiêu lần tôi đã thấy mẹ mình khước từ những phong bì như thế. Và cũng chừng ấy lần tôi thấy mẹ tôi mời những vị phụ huynh này ngồi lại để mẹ tôi có thể gợi ý một vài phương thức để họ động viên, dạy dỗ con mình. Có những người chăm chú lắng nghe, có những người rõ ràng là chỉ giả vờ nghe và vô cùng hiếm khi có người chủ động đưa ra ý kiến. Rồi, cứ như lẽ dĩ nhiên, họ lại quay lại học kỳ sau với một kịch bản tương tự. Cái tôi tự hỏi là: Có bao nhiêu trong số những người phụ huynh này thực sự tìm tòi, động não để tìm ra một cách hiệu quả dạy dỗ con em mình? Hay rốt cuộc, họ chỉ quay về với phương thức ít phiền toái nhất: Quát mắng khi con không đạt chỉ tiêu và thưởng hậu hĩnh khi con đạt thành tích.
Sự chỉ trích của xã hội lên giáo viên bắt nguồn từ lăng kính của các ông bố bà mẹ có con em chưa ngoan. Qua lăng kính của họ giáo viên trở thành những người thích tiền, khắt khe, không bao dung, thiếu độ lượng nếu những người giáo viên này có thái độ “quá” nghiêm khắc với con của họ. Ngoại trừ những trường hợp đứa trẻ tỏ ra quá hư tới mức không ai phủ nhận được, các ông bố bà mẹ luôn cảm thấy khó chịu nếu người khác chỉ trích con mình một cách thẳng thừng. Những người giáo viên trẻ muốn có được sự hợp tác của các bậc phụ huynh thường phải tìm những câu từ mang tính giảm nhẹ để nói về sai phạm của học sinh. Những người giáo viên đã già cỗi hay cứng cỏi hơn tuy có thể sẵn sàng viết rõ nhưng đa số trường hợp chỉ nhận được sự “bằng mặt, không bằng lòng” hay đơn giản chỉ là những cái phong bì. Và từ đó cái hình ảnh truyền miệng về giáo viên của đa phần phụ huynh có con em đang trên đà đi xuống trở nên méo mó. Và khi hình ảnh ấy đã hằn vào tâm trí của họ thì khi có vấn đề gì xảy ra, dĩ nhiên trách nhiệm có phần lớn được xem là… không thuộc bản thân họ.
Giờ ta hãy nói về vấn đề nhức nhối nhất đối với giáo viên: Vấn đề quyền hạn. Có bao nhiêu trong số các bạn đọc VnExpress biết rằng: Giáo viên hiện nay còn không có cả quyền đuổi học sinh ra khỏi lớp. Đừng nói là phạt đòn học sinh, quát mắng chúng cũng là việc mà giáo viên phải suy nghĩ rất kỹ trước khi làm. Tất nhiên giáo viên ở những vùng kém phát triển có thể không thực sự tuân thủ điều này. Nhưng ở các thành phố lớn, giáo viên không có bất kỳ quyền hạn trừng phạt nào lên học sinh ngoài “hạ hạnh kiểm”. Nhưng hạnh kiểm thì có gì quan trọng đâu. Học sinh chỉ cần hạnh kiểm trung bình để lên lớp. Còn chuyện chuyển tiếp lên cấp cao hơn thì do học lực quyết định. Học trò đang dần hiểu ra là hạnh kiểm chỉ là một thứ mang tính hình thức. Tôi sẽ đưa ra một ví dụ cụ thể dưới đây, một trường hợp điển hình, một câu chuyện có thật:
Một học sinh A gây mất trật tự trong lớp, gây ảnh hưởng tới những bạn xung quanh. Giáo viên đang dạy tiết học bảo học sinh này đứng dậy nhưng A không đứng. Câu trả lời của cậu ta là: “Tại sao em phải đứng?”. Giáo viên nói: “Em gây mất trật tự trong lớp, gây ảnh hưởng tới các bạn, cô yêu cầu em đứng dậy.”. A trả lời: “Em không thích đứng”.
Xin hỏi quý độc giả: Bạn sẽ làm gì trong trường hợp này? Hãy giữ câu trả lời cho riêng mình. Còn tôi, tôi sẽ kể tiếp câu chuyện này cho các bạn nghe.
Giáo viên nói: “Đây là kỷ luật của lớp. Em đứng dậy cho cô”. A ngồi yên không nhúc nhích. Giáo viên tiếp tục: “Thôi được thế em cứ ngồi đấy, nhưng không được gây mất trật tự nữa”. A nói lại: “Em không thích ngồi. Cũng không thích giữ trật tự”. (Một lần nữa xin hỏi: Bạn sẽ làm gì?) Đến đây người giáo viên này không thể từ tốn được nữa, cô nói: “Anh có bị điên không?”. A: “Cô mới điên. Em không điên”. Tới lúc này rồi thì người giáo viên không thể làm gì được nữa. Cô tuyên bố ghi tên A vào sổ đầu bài và sẽ đưa việc này ra buổi họp phụ huynh. Còn A, cậu ta không bao giờ trở nên tiến bộ hơn.
Hiện nay giáo viên vẫn bảo nhau học trò là bất trị. Họ quyết định đến với những phương thức … vô trách nhiệm hơn. Họ mặc kệ học trò hư. Chúng vi phạm nội quy – họ hạ hạnh kiểm, mời phụ huynh. Chúng tiếp tục vi phạm – họ hạ hạnh kiểm, cảnh cáo toàn trường. Chúng vẫn tiếp tục – họ đưa lên hiệu trưởng, cảnh cáo lần cuối. Và nếu chúng không thay đổi – trường đuổi học. Tương lai của đứa trẻ đó sẽ ra sao chẳng liên quan gì tới họ nữa. Bạn nghĩ tương lai chúng sẽ ra sao? Những đứa trẻ mà đến trường học cũng không chứa chấp nữa sẽ trưởng thành như thế nào? Nhưng liệu giáo viên còn có lựa chọn nào khác?
Tôi xin hỏi quý độc giả thêm một câu nữa, đặc biệt là những độc giả đang có con ở tuổi đi học: Liệu bạn có thể ngẩng cao đầu tuyên bố rằng: bạn có thể dạy bảo con mình khi không sử dụng đòn roi, không dọa cắt tiền tiêu, không dọa cắt một số quyền lợi của chúng? Và bây giờ hãy nghĩ xem cái bạn đang đòi hỏi ở giáo viên là gì. Dạy bảo một lớp hơn 40 học sinh mà không có quyền phạt, quyền mắng thậm chí không có quyền đuổi ra khỏi lớp? Trẻ hư bắt chép phạt. Chúng không chép bạn sẽ làm gì? Chúng chép và vẫn tái phạm bạn sẽ làm gì? Mời phụ huynh đến liệu có giải quyết được vấn đề hay lại là “trăm sự nhờ cô”? Ở cái thời của tôi, hạ hạnh kiểm là thứ gì đó rất kinh khủng. Một đứa trẻ bị hạ hạnh kiểm cảm thấy thật là đáng xấu hổ. Lý do vì sao? Tôi cho rằng có những sự khác biệt rất lớn giữa: “Bị hạnh kiểm kém là một việc đáng xấu hổ” với “Bị hạnh kiểm kém là cha mẹ la mắng”. Những đứa trẻ thời nay chỉ biết rằng: “Không thể hiện tốt ở trường lớp (cho dù là học lực hay hạnh kiểm) là không vừa lòng bố mẹ”. Chúng hoàn toàn không hiểu rằng: “Không cố gắng ở trường lớp thì tương lai của mình sẽ hoàn toàn khác với những gì mình mong muốn hay mơ ước.”
Mâu thuẫn là ở chỗ: ‘Vì bạn quá thương con không thể khắt khe với chúng nên bạn mới nhờ tới thầy cô để răn đe. Nhưng khi họ răn đe thì cũng vì quá thương con bạn lại cảm thấy khó chịu với họ’.
Chức năng của nhà giáo không phải là làm cho con bạn lên lớp, không phải là làm cho con bạn được điểm cao, không phải là làm cho chúng vào được trường điểm lại càng không phải là chịu trách nhiệm cho cái hư của trẻ. Chức năng của nhà giáo là hướng con bạn tới những phẩm chất tốt và khơi dậy những tiềm năng của chúng. Còn việc học, việc vươn tới tương lai, việc trở thành những con người có ích cho xã hội là việc của bản thân bọn trẻ. Chúng ta không thể bắt một đứa trẻ trở thành người thành đạt. Chúng ta chỉ có thể làm cho chúng thấy “trở thành người thành đạt là một việc tuyệt vời và con có thể làm được điều đó”. Những việc sau đó đứa trẻ sẽ có thể tự làm được. Các bạn đừng cho rằng trẻ con ngờ nghệch. Chúng rất thông minh và nhạy bén. Nếu bạn làm cho chúng thấy thích thú với tương lai, chúng sẽ tự chạy về phía đó với tất cả sức lực chúng có. Khi đó bạn không cần phải “dạy” chúng, thậm chí bạn còn không theo kịp chúng nữa. Còn nếu bạn chỉ vẽ ra một tương lai đẹp đẽ nhưng không hợp với bản thân đứa trẻ thì có cố “gò” đến mấy cũng không đến được đâu. Cuối cùng chỉ ra được một sản phẩm nửa vời không cao không thấp. Hãy cho trẻ em những ước mơ, hãy tôn trọng những ước mơ đó (cho dù chúng viển vông tới đâu) và bạn sẽ thấy chúng mạnh mẽ đến mức nào. Bạn cần hiểu rằng: ước mơ của một đứa trẻ sẽ trưởng thành theo con người của nó. Chỉ cần đứa trẻ biết tập trung sức lực vào ước mơ của mình thì khi lớn hơn chúng sẽ tự biết thay đổi mục tiêu hay sửa đổi ước mơ đó để nó thực tế hơn. Bạn không cần phải nói: “Ước mơ đó là ngớ ngẩn” bởi vì khi lớn dần đứa trẻ sẽ tự hiểu điều này.
Tôi thiết nghĩ, thời kì quan trọng nhất trong hình thành ý thức học tập và ý thức xã hội của trẻ là trước khi dậy thì. Chúng cần một nền tảng vững chắc về các quan điểm giá trị. Những quan điểm mà có thể khi đó chúng chưa hiểu nhưng tương lai chúng sẽ hiểu. Và để chúng có được nền tảng đó, một chút hình phạt không phải là việc không chấp nhận được. Một cái vụt bằng thước kẻ vào tay sẽ khiến chúng nhớ lâu hơn là một vài trang chép phạt.
Tôi không ủng hộ việc làm của một cô giáo gần đây. Thậm chí tôi thấy hành động này là phản giáo dục. Phạt học trò phải có cách và phải tinh tế. Việc làm của cô là hoàn toàn sai. Một, hai cái vụt vào tay không khiến cho trẻ cảm thấy bị nhục mạ. Nhưng bắt chúng nằm lên bàn và thẳng cách quật bằng cán chổi là việc hoàn toàn khác. Tôi ủng hộ việc phạt đòn nhưng phải phạt với lương tâm và tình thương của một nhà giáo.
Tôi chưa có con, còn chưa lập gia đình. Nhưng tương lai, tôi sẽ không cố gắng mà tôi chắc chắn sẽ dành thời gian để quan sát con của mình, dành thời gian để tìm hiểu thế mạnh của nó và dành thời gian vắt óc suy nghĩ cách để hướng con mình vào tương lai. Và chắc chắn tôi sẽ ngồi lại với giáo viên của con tôi để làm việc này khi cần. Cho dù tôi có phải bận bịu đến mấy với cơm áo gạo tiền.
T.D.Q

Trung Quốc có khá nhiều trường phái nấu ăn. Trong đó, những trường phái có ảnh hưởng và mang tính đại diện nhất được cả xã hội công nhận là các món ăn của Sơn Đông, Tứ Xuyên, Quảng Đông, Phúc Kiến, Giang Tô, Chiết Giang, Hồ Nam và An Huy.

Món ăn Sơn Đông

Đặc điểm: Vị nồng đậm, nặng mùi hành tỏi, nhất là món hải sản, có sở trường làm món canh và nội tạng động vật.

Món ăn có tiếng: ốc kho, cá chép chua ngọt.

Món ăn Tứ Xuyên

Đặc điểm: Lắm mùi vị và nồng đậm.

Món ăn có tiếng: vây cá kho khô, cua xào thơm cay.

Món ăn Giang Tô

Đặc điểm: Nổi tiếng về các món hầm, ninh, tần. Chú trọng về món canh, bảo đảm nguyên chất nguyên vị.

Món ăn có tiếng: món thịt và thịt cua hấp.

Món ăn Chiết Giang

Đặc điểm: món ăn tươi mềm, thanh đạm, không ngấy.

Món ăn có tiếng: tôm nõn Long Tỉnh, cá chép Tây Hồ.

Món ăn Quảng Đông

Đặc điểm: Rất sành về các món chiên, rán, hầm. Khẩu vị thơm giòn và tươi.

Món ăn có tiếng: Tam xà long hổ phượng, lợn quay.

Món ăn Phúc Kiến

Đặc điểm: Nguyên liệu chủ yếu là hải sản, chú trọng vị ngọt chua mặn thơm, màu đẹp vị tươi.

Món ăn có tiếng: Kim phúc thọ, cá kho khô…

Món ăn Hồ Nam

Trường phái: Chú trọng thơm cay, tê cay, chua, cay và tươi. Nhưng chua cay là nhiều nhất.

Món ăn có tiếng: kho vây cá.

Món ăn An Huy

Đặc điểm: Có sở trường về các món ninh, hầm. Rất chú trọng về mặt dùng lửa.

Món ăn có tiếng: vịt hồ lô.

Dưới đây là một số hình ảnh về các món ăn Trung hoa

clip_image001[11] 

 



 

1.      Lý do chọn đề tài

Chúng ta không thể phủ nhận một điều là ngày nay những người dù ở bất kỳ một tôn giáo nào trên đất nước việt chúng ta đều không ít nhiều hiểu biết về những lẽ sống căn bản nhấn, nhân bản nhất của một con người là tình yêu thương giữa người và người, giữa con người và thiên nhiên, đó là những lẽ sống thường nhật nhưng bắt nguồn sâu xa hơn trong tâm linh mỗi chúng ta đều có một niềm tin về cái “Chân Thiện Mỹ”, cái tâm của mỗi con người, ai trong chúng ta chưa từng nghe câu “ở hiền gặp lành” hoặc những câu đại loại như vậy?

Có thể nói nguồn gốc xuất xứ xa xôi của nó có ít nhiều liên quan đến những triết lý nhà phật, và nói một cách nôm na là trong hầu hết công dân nước việt, triết phật ít nhiều có ở trong tâm mỗi con người, nhưng vì đâu mà có những căn nguyên như vậy? phật giáo hay sâu xa hơn là triết phật có điều gì mà làm lòng dân dễ thuần phục như vậy? đâu là khởi nguồn? đâu là tác nhân và những khích lệ để dân việt có thể tiếp nhận triết lý ấy làm lẽ sống thường nhât? Bất kỳ một triết lý nói chung nào hay triết phật nói riêng, muốn thâm nhập vào trong tâm hồn của một nền văn hóa khác, chúng ít nhiều phải có sự đồng cảm của người lãnh nhận và phải có sự “xúc tác” thì nó mới phát triển “thịnh đạt” như vậy được, sự xúc tác đó cũng chính là cái đòn bẩy để triết phật phát triển đến đỉnh cao của nó tại việt nam, đó là sự đồng thuận đến mức hậu thuẫn của đương triều và tất nhiên sự phát triển thịnh đạt đó nằm ở triều Lý, Trần của việt nam trong lịch sử,

Vậy vì đâu mà có được những duyên cơ như vậy? chúng ta hãy cũng tìm hiểu và đó cũng là lý do để đề tài này ra đời, nó trả lời được câu hỏi vì sao triết phật lại thịnh đạt vào thời kỳ đó, thời Lý – Trần.

2.      Lịch sử vấn đề

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến triết phật nói chung, từng thời kỳ trong đó có thời lý – trần nói riêng như:

·        Trương Văn Chung: Tư tưởng triết học của thiền phái Trúc Lâm đời Trần. NXB chính trị quốc gia, H.1998

·        Đỗ Thanh Dương: Trần Nhân Tông – Nhân cách văn hoá lỗi lạc. NXB ĐHQG HN, H. 2003

·        Nhiều tác giả: Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý – Trần. NXB KHXH, H.1981

·        Nhiều tác giả: Thiền học thời Trần. NXB Tôn giáo, 2003.

·        Nhiều tác giả: Trần Nhân Tông – Vị vua Phật Việt Nam. NXB Tổng hợp TP. HCM, 2004

·        Nguyễn Phạm Hùng: Văn học Lý – Trần nhìn từ thể loại. NXB GD, H.1996.

·        Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận. NXB Văn học, H.2000

·        Nguyễn Tài Thư (Chủ Biên): Lịch sử Phật giáo Việt Nam. NXB KHXH, H. 1998

·        Nguyễn Huệ Chi: Hiện tượng hội nhập văn hoá dưới thời Lý – Trần nhìn từ trung tâm Phật giáo tiêu biểu: Quỳnh Lâm. TCVH, số 4, 1992

·        Minh Chi: Góp phần tổng kết Phật giáo đời Trần. TCVH số 4, 1992

·        Tầm Vu: Tìm hiểu đặc điểm của tư tưởng Phật giáo Việt Nam trong thời đại Lý Trần qua tác phẩm văn học. TCVH, Số 2, H.1972

Và còn rất nhiều công trình khác không thể liệt kê ra đây, nhưng có lẽ mỗi công trình đều có những mặt chung – riêng, hạn chế khác nhau mà chúng ta không thể so sánh. Tiểu luận này cũng chỉ là một phần nhỏ nhằm góp phần chút ít cho những kho kiến thức về triết phật hiện đang có, còn rất nhiều vấn đề “không thể” đề cập đến vì qui mô cũng như  phạm vi công trình.

3.      Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu về nguồn gốc cực thịnh của triết phật sẽ lý giải được cái “nguồn gốc tâm việt”, có nghĩa là tâm hồn những công dân việt nói chung, những người biết và tin vào phật nói riêng đều có một cái “tâm” chung đó là “hướng thiện”, trở về qui luật của tạo hóa, cái bánh xe luân hồi, và từ đó chúng ta có cái chỗ nương tựa cho cho tâm hồn vững chắc, và từ đó chúng ta sống tốt hơn. Và tài liệu nhỏ bé này cũng làm phong phú hơn nữa cho những công trình nghiên cứu về phật giáo sau này.

4.      Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính ở đây là triết phật, phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian là việt nam trong thời kỳ nhà Lý nắm quyền là chính, và thời nhà trần nhằm bổ xung cho tài liệu toàn vẹn hon, có cái nhìn chung nhất hơn.

5.      Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Đã có rất nhiều câu hỏi “tại sao” liên quan đến thời kỳ thịnh đạt của triết phật trên quê hương việt nam thời Lý – Trần, và dù cũng đã có rất nhiều câu trả lời cho những câu hỏi đó nhưng hình như vẫn còn chưa đủ vì những ảnh hưởng cho giá trị văn hóa và lịch sử của triết phật ảnh hưởng đến giai đoạn này của việt nam là rất lớn và từ đến nay dù lịch sử có những bước thăng trầm nhưng những giá trị nó mang lại là không thể phủ nhận và rất có ý nghĩa nếu chúng ta tìm hiểu được nguồn gốc sâu xa hơn nữa của những phát triển hưng thịnh này, tài liệu này góp phần thêm vào những công trình nghiên cứu liên quan đến phật giáo nói chung và triết phật nói riêng

6.      Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Phần lớn tiểu luận này được dựa trên những công trình nghiên cứu của các vị giáo sư, tiến sĩ hàng đầu việt nam tại các trường đại học, các học viện chính trị, triết học, các khoa

7. Bố cục đề tài



Triết Phật thời Lý, Giá trị văn hóa và ý nghĩa lịch sử

Trong tiến trình phát triển của loài người, Ấn Độ được biết đến không chỉ là một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại, của Đạo Phật, mà đó còn là tư tưởng, triết lý về thế giới quan, nhân sinh quan trong thế giới cổ đại Ấn Độ.

Trong tiến trình phát triển của loài người, Ấn Độ được biết đến không chỉ là một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại, mà đó còn là nơi xuất của phật giáo, là tư tưởng, triết lý về thế giới quan, nhân sinh quan trong thế giới cổ đại Ấn Độ.

Tư tưởng, triết lý ra đời từ mấy nghìn năm trước đó đến nay vẫn còn có ảnh hưởng sâu rộng ở các dân tộc Á Đông, trong đó có Việt Nam.

Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI trước công nguyên, ở miền Bắc Ấn Độ, phía Nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nêpan bây giờ.

Phật giáo được ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, có thể nói rằng, ngay từ lúc mới ra đời, đạo Phật với triết lý đạo đức nhân sinh sâu sắc đã trở thành một trong những ngọn cờ trong phong trào đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội Ấn Độ đương thời.

Quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam được chia làm 3 thời kỳ chính: Thời kỳ từ đầu công nguyên; Thời kỳ độc lập tự chủ (938) qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến triều nguyễn; Thời kỳ Pháp thuộc và sau 1954.

Ở thời kỳ đầu công nguyên: Phật giáo được xác định là du nhập vào nước ta thế kỷ II-SCN bằng đường biển và đường bộ từ Ấn Độ và Trung Quốc tại Giao Chỉ và Chăm Pa; Trước nhà Đường xuất hiện dòng thiền đầu tiên là Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi (do ngài Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi người Ấn Độ sáng lập) ở nhà nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế, với tư tưởng thiền là “Tức tâm tức phật”; Thời nhà Đường xuất hiện dòng thiền thứ hai là Vô Ngôn Thông (do ngài Vô Ngôn Thông người Trung Quốc sáng lập), Với tư tưởng “Tức tâm tức phật” và có bổ sung phần y báo đức Phật trong tâm. Điểm nổi bật của dòng thiền này là sự xuất hiện hình thức Cư sĩ-Thiền sư.

Ở thời kỳ độc lập tự chủ, trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến triều Nguyễn: Nhà Đinh và Tiền Lê đã đưa Phật giáo lên thành quốc giáo với chức tăng thống và thiền sư có vai trò cố vấn cho các nhà vua; Thời nhà Lý, Phật giáo phát triển cực thịnh, là quốc đạo và xuất hiện dòng thiền thứ ba là Thảo Đường (do ngài Thảo Đường người Trung Quốc sáng lập).

Điểm nổi bật của dòng thiền này là vai trò của giới cư sĩ được khẳng định một cách chính thức. Giai đoạn này có sự hiện diện của cả 3 dòng thiền và Phật giáo có xu hướng nhập thế mạnh mẽ; Nhà Trần là triều đại của Phật giáo với vai trò nổi bật của Trần Nhân Tông-Người sáng lập ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Tư tưởng của dòng thiền này là phát triển đỉnh cao quan niêm “Tức tâm tức phật”; Thời Hậu Lê Phật giáo chính thức bước vào thời kỳ suy thoái với nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là do Hồ Quý Ly ra sức phát triển Nho giáo vào cuối thế kỷ XIV và nhà Minh xâm lược Đại Việt vào đầu thế kỷ XV; Sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê thì nước ta chia cắt thành xứ đàng trong (vua Lê-chúa Trịnh) và đàng ngoài (chúa Nguyễn).

Xứ đàng trong Phật giáo phát triển mạnh trên cơ sở một nền học lý mới nhờ vai trò của chúa Nguyễn Phúc Chu (được ví là Trần Nhân Tông thứ hai trong lịch sử Phật giáo), nền học lý mới đó là dòng Tào Động, dòng Lâm Tế. Xứ đàng ngoài ảnh hưởng mạnh mẽ dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Khi Gia Long lên ngôi vào đầu thế kỷ XVIII, xã hội Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng tư tưởng trầm trọng, đất nước rơi vào họa ngoại xâm, phật tử và nhân dân tự đứng dậy khởi nghĩa.

Ở thời kỳ Pháp thuộc và sau năm 1954: Thời Pháp thuộc, Thiên Chúa giáo được hậu thuẫn và Phật giáo bị khủng bố, đàn áp gắt gao vì thế Phật giáo giai đoạn này có xu hướng nhập thế và chấn hưng mạnh mẽ; Sau 1954, trên cả hai miền Nam Bắc, Phật giáo đều chưa có cơ hội để phát triển, nhưng sau 1990 nhờ chính sách tự do tôn giáo của Đảng và nhà nước, Phật giáo có điều kiện phát triển mạnh mẽ và dần lấy lại vị thế của mình.

Có thể nói rằng, trong hơn 20 thế kỷ qua, Phật giáo đã có một vai trò, vị trí quan trọng nhất định trong lịch sử dân tộc, nhất là Phật giáo Lý – Trần đã thể hiện trí tuệ và từ bi sâu sắc bằng sự nhập thế sinh động và đa dạng qua tư tưởng, lời nói, hành động gắn bó với cuộc sống an vui hạnh phúc của dân tộc. Cả hai triều đại Lý–Trần, Phật giáo đã trở thành quốc giáo.

Thâm nhập giáo lý nhà Phật qua chính sách an dân trị nước nên các vua Lý – Trần đã chinh phục trái tim, khối óc con người bằng đức trị thay pháp trị. Đạo đức vô ngã đã tạo cho con người một cuộc sống hòa hợp, giản dị nhưng tạo lực tác động mạnh mẽ vô cùng.

Vì thế cả hai triều đại Lý – Trần đều tồn tại khá lâu. Triều Lý hơn 200 năm (1010 – 1225) và Triều Trần gần 200 năm (1226 – 1400). Có thể nói đây là thời đại cực thịnh của Phật giáo Việt Nam mà cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà. Các vua thời đại Lý – Trần được thừa hưởng những thành qủa tốt đẹp của thế hệ trước, đồng thời biết phát huy những tinh hoa gạn lọc được từ bên ngoài biến thể sao cho phù hợp với quốc dân thủy thổ mà không đánh mất bản sắc dân tộc. 

Nhà Lý mở đầu là Lý Công Uẩn vào năm 1010 và kéo dài cho đến năm 1225, kết thúc ở đời thứ chín là Lý Chiêu Hoàng. Triều đại nhà Lý tồn tại khoảng 215 năm, với khoảng thời gian ấy đã tạo ra được bề dày lịch sử của một quốc gia phong kiến độc lập có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê do phải tiến hành những công việc như: bảo vệ đất nước, củng cố quốc gia sau thời gian Bắc thuộc hàng ngàn năm nên chưa có điều kiện để quan tâm phát triển văn hóa, tư tưởng… Đến nhà Lý đã từng bước chủ động, tích cực xây dựng và phát triển diện mạo văn hóa, tư tưởng với một quốc gia phong kiến độc lập.

Nếu như Nho giáo là công cụ của đội quân xâm lược nên không nhận được cảm tình của dân tộc ta thì Phật giáo lại khác hơn, Phật giáo được dân tộc ta tiếp nhận một cách hòa bình, tự giác trên tinh thần thân thiện, cởi mở, vì vậy Phật giáo sớm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và cả lĩnh vực chính trị từ thời Ngô, Đinh, tiền Lê, Lý, Trần…

Những vấn đề về quản lý xã hội, những phạm trù đạo đức của xã hội, của cá nhân nhằm duy trì trật tự xã hội của Nho giáo đã đáp ứng nhu cầu ổn định xã hội của triều đình phong kiến.

Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, nhu cầu về sự kiến giải vấn đề sống-chết, may-rủi, họa-phúc, vấn đề tâm linh của con người… thì Nho giáo không thể đáp ứng được.

Cho nên với nội dung tư tưởng của mình Phật giáo đã đáp ứng được nhu cầu đó. Trước khi Nho giáo chưa được nhà Lý chủ động sử dụng thì Phật giáo đã có ưu thế trong xã hội. Nhà chùa với nước phong kiến có quan hệ khá mật thiết, nhà chùa cung cấp cho nhà vua những trí thức Phật giáo để phục vụ chính trị, đặc biệt là trong công việc bang giao với nước khác.

Các nhà sư đều được nhà vua trọng dụng, hỏi ý kiến trong việc kiến thiết, xây dựng, củng cố, phát triển đất nước, thậm chí kể cả công việc đánh giặc để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia dân tộc.

Từ thế kỷ XI cho đến khoảng hết thời nhà Lý, Phật giáo ảnh hưởng khá sâu sắc trong đời sống xã hội nước ta, trước hết là người lập nên nhà Lý là vua Lý Công Uẩn có lý lịch xuất thân từ nhà chùa và các nhà sư là những người hậu thuẫn cho sự lên ngôi của Hoàng đế Lý Công Uẩn.

Sau đó là hàng loạt các nhà vua đi tu như Lý Thánh Tông là đời thứ nhất của phái Thảo Đường, Lý Anh Tông là đời thứ ba của phái Thảo Đường, Lý Cao Tông là đời thứ năm của phái Thảo Đường, Lý Huệ Tông. Nhìn chung, tư tưởng Phật giáo thời kỳ này ảnh hưởng rất lớn không chỉ trong đời sống tinh thần của xã hội mà đến cả tình hình chính trị của dân tộc.

Tư tưởng Phật giáo thời kỳ này chủ yếu là các dòng Thiền tông như dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, dòng Vô Ngôn Thông, dòng Thảo Điền. Nhìn chung tư tưởng Phật giáo vào Việt Nam mang xu hướng nhập thế, các nhà vua đi tu nhưng vẫn luôn hướng về những vấn đề hưng vong, thịnh suy của dân tộc.

Các nhà vua đi tu, một mặt tìm sự giải thoát tinh thần, mặt khác lại quan tâm đến nhân tình thế thái, mong sự giải thoát cho nhân dân khỏi sự khổ ở đời.

Tư tưởng Phật giáo thời Lý mặc dù vẫn tôn trọng những tư tưởng Phật giáo nguyên thủy của Ấn Độ, nhưng không tách biệt đời với đạo như Phật giáo Ấn Độ, mà ngược lại gắn đạo với đời. Trong tư tưởng Phật giáo ở giai đoạn này, quan niệm sự khổ không nặng nề, bi quan, yếm thế như Phật giáo nguyên thủy.

Người ta có thể tìm thấy chuyện trai gái lên chùa mượn chiếu, mượn ấm trà để tình tự với nhau như lẽ sống thường tình. Cũng trong thời kỳ này, cùng với nền giáo dục Nho học, nhà chùa cũng trở thành nhà trường, nhà sư cũng chính là nhà giáo dục, trong môi trường ấy đã tạo ra những trí thức Phật giáo và chính họ là những nhà truyền bá tư tưởng đạo Phật trong nhân dân, cung cấp những hiểu biết về đời sống tâm linh, tinh thần ở các khía cạnh Nho giáo chưa đề cập đến.

Có thể nói rằng, Phật giáo Việt Nam giai đoạn thời Lý đã đóng một vai trò khá quan trọng trong nền giáo dục thời Lý và góp phần đào tạo ra những nhà lãnh đạo song toàn, điều này chứng tỏ nền giáo dục Việt Nam và Phật giáo Việt Nam giai đoạn thời Lý đã thể hiện chức năng đào tạo hiệu quả, sản sinh ra những nhà trí thức có khả năng gánh vác không chỉ việc đạo mà còn cả việc nước, việc dân như: Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thái Tổ… và xét trên bình diện xã hội, Phật giáo còn giáo dục con người trước sau như một, trung thành với nước, với dân.

Đến thời Lý, nền văn hóa nước ta đã có bề dày hơn 3000 năm, trong đó, sự xuất hiện của Phật giáo là khoảng 100 năm. Nền văn hóa thời Lý tuy vẫn chịu ảnh hưởng của ngàn năm Bắc thuộc nhưng cũng đã dần khẳng định tính tự tôn của nước Đại Việt mà sự đóng góp của Phật giáo là rất rõ nét, thể hiện qua những giá trị vật thể và phi vật thể, chính điều đó đã làm phong phú thêm cho nền văn hóa dân tộc.

Phật giáo thời Lý đã để lại những công trình văn hóa tín ngưỡng có giá trị cho dân tộc, điển hình là bốn công trình lớn là “An Nam tứ đại khí” (bốn nguyên khí trấn giữ nền độc lập của nước Nam). Trong đó: Một là: Tháp Báo Thiên, “bảo tháp Đại thắng Tự Thiên cao vài chục trượng” [1, 272] được xây dựng vào năm 1057 ở chùa Sùng Khánh.

Tháp này cao mười hai tầng, mỗi viên gạch đều khắc niên hiệu Long Thụy Thái Bình. Nhưng đến thời Hồ, ngọn tháp này đã đổ. Đến năm 1427, Lê Lợi làm cái đồn canh gác trên tháp để quan sát giặc.

Đến thời “quân xâm lược Pháp chiếm đóng Hà Nội đã bị cha cố đạo Puginier làm đơn cưỡng chiếm, lấy đất làm ngôi nhà thờ lớn Hà Nội tồn tại cho đến ngày nay. Dù thế, chùa tháp Báo Thiên từng một thời là biểu tượng của sức mạnh Đại Việt” [3, 36]. Hai là: Tượng Quỳnh Lâm được đúc bằng đồng ở chùa Quỳnh Lâm, Ba là: Chùa Phổ Minh ở Nam Định, Bốn là: Chuông Quy Điền (nghĩa là chuông không kêu, nên đặt xuống ruộng), đúc năm 1080 ở chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) [1, 280].

Ngoài bốn công trình trên, nhà Lý còn để lại những di tích mà hiện nay vẫn còn như Quán Trấn Vũ (1102) [1, 284], đền Hai Bà… và nhiều cung điện ở Thăng Long, những nơi này không những là địa điểm sinh hoạt văn hóa, giáo dục của mọi tầng lớp nhân dân mà còn thể hiện giá trị về mặt kiến trúc, mang triết lý sâu sắc mà bình dị thể hiện được tính dân tộc của Phật giáo.

Bản sắc văn hóa là nguồn gốc, là sức mạnh tinh thần vô hình tác động rất mạnh cho mọi sự phát triển, đó cũng là nét đặc thù của dân tộc.

Văn hóa Phật giáo là một bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa dân tộc, chính vì vậy, việc củng cố và phát huy vài trò của Phật giáo có một ý nghĩa lớn đối với cuộc vận động “toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” hiện nay.

Vì rằng, đối với tất cả người dân Việt Nam, dù có theo Phật giáo hay không đều ít nhiều hiểu tư tưởng của như triết lý nhà Phật, bởi vì đó là một phần truyền thống của cha ông, sẽ là bất khả nếu muốn nghiên cứu văn hóa Việt Nam mà không nói đến Phật giáo và ngược lại.

Hiện nay Phật giáo vẫn còn là một tác nhân tác động mạnh trong xã hội. Chúng ta dễ nhận thấy Phật giáo đã mang đến cho người Việt những ngôi chùa cổ kính, những pho tượng bề thế rải khắp xóm làng làm tăng lòng từ bi và hướng thiện của người bình dân.

Phật giáo đã đưa đến một trung tâm văn hoá làng một thời sôi động. Phật giáo cũng đã mang đến trong tâm hồn người Việt một đời sống tâm linh sâu đậm từ khi du nhập cho đến nay. Trong lịch sử, Phật giáo cũng luôn gắn liền với vận mệnh của dân tộc, giai đoạn thời Lý, ông cha ta đã nhận thức được tầm quan trọng của một nền văn hóa độc lập tự chủ, vì văn hóa là linh hồn của dân tộc.

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển về văn hóa truyền thống và có nhiều chính sách nhằm bảo vệ và phát huy những giá trị đó, tầm quan trọng của văn hóa cũng được Đảng và Nhà nước ta nhìn nhận: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội” [2, 110] và đề ra chủ trương “xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

Đây là một chủ trương kịp thời và đúng đắn, và Phật giáo với những giá trị của mình sẽ góp phần thực hiện nhiệm vụ này, sẽ là quá muộn nếu chúng ta không có những nhận thức đúng đắn và đầy đủ về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa quá khứ và hiện tại, cũng như không nắm vững qui luật phát triển văn hóa – xã hội ở từng thời kỳ, chính vì vậy, việc phát huy bản sắc dân tộc phải được xem là nhiệm vụ của mỗi cá nhân, gia đình và của toàn xã hội.

Năm 2010, nước ta sẽ tổ chức đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đây là hoạt động vừa hướng về nguồn cội thiêng liêng của dân tộc, nhưng đồng thời cũng là sự kiện lớn, có ý nghĩa quan trọng liên quan đến nỗ lực bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đối với việc xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, t.1,2.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

3. Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam từ Lý Thánh Tông (1054) đến Trần Thánh Tông (1278), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, t.3.



Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo thời Lý

Phật giáo thời Lý có vị trí, vai trò trong cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội. Phật giáo tham gia vào nhiều công việc tổ chức của xã hội: hoạt động tôn giáo tính ngưỡng trong làng xã, xây chùa, dựng tháp, tô tượng, đúc chuông; tham gia và giữ vị trí chủ đạo trong hoạt động chính trị, giáo dục, xây dựng các chuẩn mực đạo đức xã hội.

Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng Đế, đặc niên hiệu là Thuận Thiên, khởi nghiệp nhà Lý. Khoảng thời gian 216 năm trị vì của triều đại nhà Lý, nền quân chủ Đại Việt dần hoàn thiện và phát triển. nhà Lý đã thực hiện hàng loạt các chủ trương, chính sách và biện pháp tích cực nhằm thự chiện nhiệm vụ Độc lập dân tộc và Thống nhất quốc gia, phát triển nền văn minh Đại Việt. Xã hội Đại Việt dưới triều Lý phát triển về mọi mặt: cơ cấu nhà nước được thiết lập theo lối chính quy với mô hình nhà nước trung ương tập quyền, pháp luật được coi trọng, giáo dục văn hoá được mở mang, quân đội được củng cố, tư tưởng triết học và tôn giáo đặc biệt là Phật giáo.

Phật giáo thời Lý có vị trí, vai trò trong cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội. Phật giáo tham gia vào nhiều công việc tổ chức của xã hội: hoạt động tôn giáo tính ngưỡng trong làng xã, xây chùa, dựng tháp, tô tượng, đúc chuông; tham gia và giữ vị trí chủ đạo trong hoạt động chính trị, giáo dục, xây dựng các chuẩn mực đạo đức xã hội. Các chùa, tháp, tô tượng, đúc chuông, dịch kinh, phát triển đội ngũ sư tăng… để tỏ lòng sùng kính Phật.

Phật giáo thời Lý phát triển mạnh các dòng thiền. Hai phái thiền Lưu Chi và Vô Ngôn Thông từ thời Bắc thuộc, tiếp tục được phát triển. Thời Lý hình thành dòng thiền Thảo Đường.

Thiền Lưu Chi phát triển ở thời Lý từ thế hệ 11 đến thế hệ 19 với các thiền sư lưu danh sử sách: Vạn Hạnh (938-1025), Đạo Hạnh (?-1115), Viên Thông (?-1151)…

Thiền Vô Ngôn Thông thời Lý từ thê 1hệ thứ 5 đến thế hệ thứ 17. Các thiền sư nổi tiếng của dòng thiền này: Khuông Việt (933-1011), Đa Bảo, Viên Chiếu, Lý Thái Tông (1000-1054)…

Thiền Thảo Đường thời Lý phát triển được 6 thế hệ. Trong sách Thiền Uyển Tập Anh có ghi tên 19 người, trong số đó: Lý Thánh Tông, Không Lộ, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông…

Tư tưởng của các phái thiền có một chiều sâu triết lý, tâm linh, đạo đức. Thiền Lưu Chi ảnh hưởng tư tưởng Bát Nhã. Khi thiền định hành giả phải làm cho trí huệ bát nhã bừng sáng mới có thể nhập được các pháp. Để đạt được mụch đích đó, kinh dạy về pháp thiền quán trong ngoài để phá trừ kiến chấp, Kinh mang tính văn hệ Bát Nhã nên bản chất của giác ngộ vượt ngoài phạm vi ngôn ngữ, văn tự, siêu việt hữu vô. Tư tưởng của phái thiền này còn tiếp thu cả tư tưởng sẫm vĩ, phong thuỷ. Thiền Vô Ngôn Thông nhấn mạnh thuey61t đốn ngộ tâm địa, chù trương con người có thể trong một giấy lát đạt được quả vị giác ngộ, không cần phải tiệm tiến. Sự giác ngộ là do tự tính thực hành, do sử dụng phương pháp thoại đầu để phát khởi sự đạt ngộ nơi tâm tư. Thiền Vô Ngôn Thông còn chịu ảnh hưởng của Mật Tông sử dụng các thế lực siêu nhiên để mau chóng gáic ngộ, ảnh hưởng của Tịnh Độ tông chủ trương niệm Phật để đạt tới nhứt tâm bất loạn, vãng sinh vào thế giới cực lạc của phật A Di Đà. Chủ trương của thiền Thảo Đường là thống nhất tư tưởng và tông phái phật giáo cùng với Nho và Đạo, thiên về chú trọng tri thức và văn chương, nên không lan toả được trong đại chúng mà chỉ ảnh hưởng được trong giới quý tộc, trí thức. Tư tưởng triết lý của các phái thiền và hoạt động truyền giáo, hoạt động xã hội của các thiền sư ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chính trị, văn hoá xã hội thời Lý. Để có được những thành tựu đáng kể, tư tưởng Phật giáo thời Lý đã có những đặc trưng như khả năng dung thông linh hoạt, tính nhập thế sâu sắc. Tuy nhiê, sức sống, sức mạnh của Phật giáo là ở triết lý. Phật giáo thời Lý đóng góp vào văn hiến Đại Việt không chỉ ở vai trò với thức tiễn xã hội mà còn ở vai trò xây dựng nền triết học Phật giáo.

Quan niệm về thế giới của các thiền sư thời Lý

Thiền tông chủ trương vạn vật nhất thể nhưng biến hoá khôn lường dưới các dạng khác nhau. Những dạng này luôn luôn thay đồi gọi là pháp tướng vô thường. Thế giới, con người cũng như muôn loài luôn thay đổi, không dễ gì nắm bắt được. Vạn vật tuy sắc thân, sắc tướng không còn nhưng bản thể qua pháp tướng vô thường vẫn còn, không hề mất, có thể tìm thấy ở khắp nơi. Một đã thành Vạn trong trời đất núi non. Khoảng cách không gian, thời gian gần mà xa, xa mà gần.

Vòng tuần hoàn của vũ trụ: xuân, hạ, thu, đông được các thiền sư thể hiện như nguồn sốngbất diệt; xuân sinh, hạ trưởng, thu liễn, đồng tàn, vạn vật sinh-trụ-dị-diệt vô thỷ vô chung. Lý vô thỷ vô chung là lý để từ đó có thể đồng nhất thể vũ trụ.

Vô ngã, vô thường

Triết lý vô thường, vô ngã cũa Phật giáo từ thời nguyên thuỷ được các thiền sư thời Lý biểu đạt bằng những hình ảnh của tự nhiên và con người. Thiền sư Mãn Giác (1052-1096):

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

(Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết, đêm qua một nhành mai đã nở trước sân)

Thiền sư đã giác ngộ được cảnh vô thường của vạn vật, thân người như bóng chớp, vô ngã và vô thường như vạn vật. Từ đó, các thiền sư chủ trương an nhiên tự tại sống, thoát khỏi sắc dục, sống “mình vì mọi người”, xả hỷ lợi tha cao thượng.

Sắc – Không

Giáo sắc không của các thiền sư thời Lý được thể hiện qua các phạm trù “có – không”, “còn – mất”, “sống – chết”. Lịch sử đã ghi danh các thiền sư cống hiến trí tuệ và cuộc đời mình cho đạo pháp, dân tộc. Trước tác các vị để lại đã phần nào giải thích cho chúng sinh quá trình gíc ngộ của mình, giải thích lý sắc – không theo phong cách nghệ thuật độc đáo:

Thiền sư Đạo Hạnh (1072-1116) đã viết:

Tác hữu trần sa hữu

Vị không nhất thiết không

Hữu, không như thuỷ nguyệt

Vật trước hữu không không

Trong thế giới nếu có thì trời đất cho đến hạt cát đều là có. Nhưng con mắt trí tuệ soi chân tướng các pháp, nhận thấy có chỉ là ảo giả, hợp rồi tan.

Thiền sư Huệ Sinh (?-1063) trả lời Lý Thái Tông về tâm nguyện:

Pháp bản như vô pháp,

Phi hữu diệc phi không

Nhược nhân tri thử pháp,

Chúng sanh dữ Phật đồng

Tịch tịch lăng già nguyệt

Không không độ hải chu.

Tri không, không giác hữu

Tam muội nhậm thông chu

Thực tướng có và không của các pháp giống nhau. Người nào không rõ cũng như người mơ màng không nhận ra được thế nào là có và thế nào là không. Người giác ngộ nhận ra thì được coi là đồng với Phật.

Linh Nhân hoàng thái hậu (Lê Thị Ỷ Lan, 1044-1117) có bài kệ bàn về sắc – không:

Sắc thị không, không tức sắc,

Không thị sắc, sắc tức không

Sắc, không câu bất quản,

Phương đắc kế chân tông

(Sắc là không, không tức sắc

Không là sắc, sắc tức không

Sắc không đều chẳng quản

Mới khế hợp chân tông).

Các thiền sư thời Lý coi bản thể của thế giới thường còn bất sinh, bất diệt, như như bất động nhưng nó lại tuỳ duyên mà biến ra mọi nơi, mọi vật.

Sự vật thiên hình vạn trạng, các pháp, là một dạng của thế giới bản thể. Các thiền sư thường ca ngợi cảnh trăm hoa đua nở, chim hót chào xuân, giọt sương trên đầu ngọn cỏ, cành mai nở trong đêm xuân, trăng lặng soi bóng thuyền,… vừa là những cảnh vật của đời thường, mà cũng là hình tượng thể hiện bản thể. Các thiền sư đồng thời là thi sĩ đã hoà tan cảm xúc của mình với thiên nhiên, đất nước và con người. Họ đã diễn tả được những khái niệ, phạm trù triết họcrất trừu tượng chỉ trong những câu thơ, câu kệ rất ngắn.

Chúng sinh bị vô minh che lấp không nhận thức được bản thể nên coi thế giới hiện tượng là có thật, do nghiệp nên nhìn thế giới thành một thế giới đầy phiền não. Do vậy, chúng sanh cần được giác ngộ. Chính trong đời sống hiện tại, con người tu dưỡng đạt được cảnh giới Chân như, cảnh giới Niết bàn, con người tự giải thoát mà không rời sinh tử. Giác ngộ không phải do ai trao truyền mà phải tự mình thực hành lấy.

Nhân sinh quan của các thiền sư thời Lý

Phật giáo là học thuyết mang tinh thần nhân văn, gí trị nhân đạo cao cả. Phật giáo đề cao yếu tố con người. Xã hội là do con người tạo nên, tốt hay xấu là do con người. Tư tưởng triết học thiền tông thời Lý đề cập tới con người trong lẽ vô thường của thế giới. Con người là một phần của vũ trụ, hoà đồng với vũ trụ nhưng con người vì không hhiểu lẽ đó nên muốn có sự trường sinh vĩnh hằng, từ đó lo sợ đau khổ, sợ hãi. Thế giới là ảo ảnh, con người cũng như bóng chớp có rồi lại không.

Thiền sư Viên Chiếu (999-1090), thiền sư Vạn Hạnh đã khẳng định điều này trong các bại kệ:

Thân như tường bích dĩ đồi thì,

Cử thể thông thông thục bất bi.

Nhược đạt tâm không vô sắc tướng,

Sắc không ẩn hiện nhậm thôi di”.

(Thân thể người ta như vách đến lúc đỗ nát,

Tất cả người đời đều vội vả, ai mà chẳng buồn

Nhận thức được rằng tâm là không, vô sắc tướng

Sắc không ẩn hiện mặc nó đổi dời)

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô.

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

(Người đời như bóng chớp, có rồi lại không.

Như cây cối mùa xuân tươi tốt, mùa thu khô héo.

Mặc cho vận đời dù thịnh hay suy, đừng sợ hãi.

Thịnh suy cũng mong manh như giọt sương đầu ngọn cỏ)

Các vị thiền giả tu luyện bản lĩnh, vượt lên trên sự phân biệt, không còn cái ta và không ta, hoà đồng nội tâm và ngoiạ giới, không lo ngại sự thay đổi khôn lường của vũ trụ. Thiền sư phải là tấm gương cho chúng sinh, là người giác ngộ, là người đốt ngọn đuốc để soi tỏ con đường giải thoát khỏi sự mê lầm. Từ đó, lý lẽ chung của thiền tông là không câu nệ vào con đường tu tập mà Như lai đã từng đi. Thiền sư Quảng Nghiêm (1121-1190) đã từng lập luận:

Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ,

Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh.

Nam nhi tự hữu xung thiên khí,

Hưuu hướng Như lai hành xứ hành

(Thoát ly được lòng ham muốn niết bàn mới có thể bàn tới niết bàn,

Sinh vào cõi vô sinh mới nói vô sinh

Nam nhi tự có chí tung trời

Đừng đi theo bước chân của Như Lai)

Tư tưởng của Ni sư Diệu Nhân (1041-1113) đạt đến đỉnh cao của phương pháp tu tập giải thoát của thiền tông thời Lý. Ni sư khẳng định tinh thần độc lập, tự lực giải thoát, không lệ thuộc vào ngoại cảnh:

Sinh lão bệnh tử

Tự cổ thường nhiên.

Dục cầu xuất ly,

Giải phọc thiệm triền.

Mê chi cầu Phật

Hoặc chi cầu Thiền

Thiền, Phật bất cầu,

Đỗ khẩu vô nghiêm.

(Sinh lão bệnh tử

Lẽ thường xưa nay

Muốn cầu siêu thoát,

Nhưng cỡi trói cũng chính là buộc chặt thêm.

Mê muội thì mới cầu Phật

Nhầm lẫn thì mới cầu Thiền.

Chẳng cầu Phật chẳng cầu Thiền,

Mím môi, Vô ngôn)

Phật giáo thời Lý đã tôn vinh giá trị con người lên tới địa vị Phật. Tôn vinh con người, phục vụ con người, đáp ứng những nhu cầu tâm linh cao đẹp nhất của con người để giải thoát mọi khổ đau, nghiệp chướng là tôn chỉ, mụch đích trong suy nghĩ và hành động của các thiền sư thời Lý.

Từ bi

Lòng từ bi của các Thiền sư, vua quan nhà Lý qua các suy nghĩ và hành động rất đa dạng phong phú. Do hoàn cảnh lịch sử đặc thù của dân tộc lúc bấy giờ, nhà nước độc lập non trẻ, thù trong, giặc ngoài, đệ tử Phật không thể thủ tiêu đấu tranh mà phải giác ngộ rằng quyền lợi của mình hoà đồng vào quyền lợi của dân tộc.

Thiền sư Viên Thông (1080-1151) đã trình bày với vua Lý Nhân Tông:

Thiên hạ cũng giống như đồ dùng, đặt yên thì được yên, đặt chỗ nguy ắt gặp nguy; cốt yếu là hành vi của bậc nhân chủ như thế nào mà thôi. Nếu đức hiếu sinh hợp với lòng dân thì dân yêu như cha mẹ, ngữa trông như mặt trời mặt trăng: đó là đặt thiên hạ vào chỗ yên vậy”.

Đức tính thương người như thể thương thân của các minh quân, thiền sư thời Lý đã được sử sách ghi chép, ca ngợi nhiều. Chúng tôi muốn kiến giải suy nghĩ và hành động của các vị minh quân và thiền sư từ góc độ triết lý nhân sinh của triết học Phật giáo. Phật giáo không bàn đến phạm trù bình đẳng một cách độc lập như các thuyết khác, nhưng trong triết lý nhân sinh Phật giáo, không có sự phân biệt giữa những con người, Phật giáo chủ trương mọi người đều được giải thoát khỏi mê lầm. Từ bi và bình đẳng không có ranh giới. Từ bi là đem lại an lạc, hạnh phúc cho mọi loài, cho mọi người, cứu khổ cưu 1nạn không phân biệt. Phật là hiện thân của từ bi, người tu theo Phật là hực hành từ bi suốt đời, không gây đau khổ cho người khác và đương nhiên không thờ ơ trước sự đau khổ của người khác, tự giúp mình và giúp người thoát khỏi đau khổ, không câu nệ, cố chấp.

Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo thời Lý nói riêng không chỉ đề cao triết lý từ bi bình đẳng trong nhận thức mà trong thực tế, Phật giáo Việt Nam là một trong số ít quốc gia Phật giáo có sự bình đẳng trong tu tập, trong vị trí của các thiền sư, cư sĩ nữ đối với xã hội.

Giải thoát

Phật giáo thời Lý không chủ trương xuất thế để cầu giác ngộ. các thiền sư chủ trương giải thoát ngay trong chính cuộc đời, lấy nhân quần xã hội làm thử thách, từng trãi mà giải thoát. Phật gaió thời Lý kết hợp nhiều phương thức giải thoát trong các tông phái, chủ trương “tuỳ duyên” rất uyển chuyền nhưng cũng hàm chứa triết lý sâu sắc.

Phật không phải là đối tượng cho ý thức cầu tìm bên ngoài. Phật là tự tính chân như, một trình độ của ý thức, là biết giác ngộ, thường trụ bất biến tiềm tàng nơi chúng sinh. Chúng sinh phát hiện được tự tính chân như là ngộ đạo. Như vậy, con người muốn giải thoát không có gì bí ẩn, chỉ cần thay đổi suy nghĩ và hành động của mình từ chỗ mê lầm sang trong sáng, an nhiên tự tại. đó là sự ngộ đạo được thực hiện ngay khi con người đang hiệns inh trong cuộc đời, đang gắn mình trong hằng hà sa số các mối quan hệ. Con người sẽ không phải tách rời cõi sinh tử, mà sống trong cõi sinh tử nhưng khôngc ần sợ sự sinh tử, không bi quan, yếm thế mà lại nhập thế hành đạo, yêu đời, ung dung, tự tại. Kiều Bản Tịnh (1100-1176), tinh thông cả Nho – Phật – Đạo, đã từng theo học thiền sư Mãn Giác, cùng với Bảo Giám và Không Lộ làm thành thế hệ thứ chín dòng thiền Quan Bích, trong bài kệ đã nêu đường lối tự giác, giác tha:

Thế thế sinh sinh

Bất muội Phật chỉ.

Tự giác giác tha,

Vô gian bỉ thử.

Phương tiện đề huề,

Nhập ư nhất quỹ.

(Đời đời kiếp kiếp

Chẳng bao giờ làm mờ tối ý hcí của Phật

Mình tự giác ngộ để giác ngộ cho người,

Không phân biệt kẻ này, người khác.

Sẵn sàng dìu dắt, cùng đi vào một lối chung)

Triết lý giải thoát uyển chuyển của các thiền sư đã đưa họ đến với phương thức hoạt động tích cực trong cuộc sống xã hội. Các thiền sư là hiện thân cho chủ trương đã ngộ đạo khi gắn mình vào cuộc đời bình thường cũng phải hành động và suy nghĩ theo những đạo lý của cuộc sống; giải thoát trước hết là làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình đối với xã hội, đối với con người. Điều này thật có giá trị lý luận và thực tiễn đối với chúng ta.

Một số nội dung cơ bản của triết học Phật giáo thời Lý đã có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ thống triết học Phật giáo Việt Nam, ảnh hưởng đến sinh hoạt tư tưởng của người Việt. Đặc biệt, sự phát triển của Thiền tông thời Lý đã bổ sung và làm sâu sắc hơn hệ thống các phạm trù triết học Việt Nam với nhiều khái niệm, phạm trù cơ bản về thế giới quan và nhâns inh quan. Bằng triết lý của mình, các thiền sư thời Lý nhập thế tích cực cứu đời, cứu nước, cứu dân, “kiến tính thành Phật” ngay trên thế gian này. Nền độc lập và văn hei61n của Việt Nam không bao giờ thiếu vắng sự dày công gây dựng và vun đắp của các vị./.



Triết lý Phật giáo thời Trần trong biểu tượng hoa sen

clip_image003[7] Sở dĩ, người ta cho rằng hoa sen gắn với đạo Phật, bởi ở trong hoa đã có quả hay còn gọi là: “vị liên cố hoa” tượng trưng cho một ý nghĩa “nhân quả” của Phật pháp.

Ở Việt Nam, hoa sen chẳng những quen thuộc trong đời sống hằng ngày mà còn xuất hiện trong các huyền thoại Phật giáo gắn với những vị vua như: Khi có thai vua Lê Đại Hành, mẹ vua nằm mơ thấy bụng nở hoa sen; vua Lý Thánh Tông mơ thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài sen dắt vua lên tòa; vua Trần Nhân Tông “nằm ngủ trong chùa Tư Phúc mơ thấy từ rốn mình mọc lên một bông sen, trên bông sen có một vị Phật mình vàng”…

Cùng với những truyền thuyết này, thì trong kiến trúc cổ Việt Nam, hình tượng bông sen cũng đã được đưa vào một cách đầy sáng tạo. Tháp Phổ Minh thời Trần là một trong những tác phẩm kiến trúc như vậy và được gọi là tháp hoa sen. Tháp Phổ Minh được xây dựng ở trước hiên chùa Phổ Minh, Nam Định, là một ngôi tháp độc đáo, tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc thời Trần và cũng được xem là tháp tưởng niệm của vua Trần Nhân Tông – danh phong: Điều Ngự Giác Hoàng Tổ Phật.

Toàn bộ cây tháp cao 13 tầng, được đỡ bằng một bệ sen lớn gồm hai lớp, chạm bốn mặt của chân tháp và được cấu tạo một cách rất đặc trưng theo kiểu hình vuông, tương tự như lối chạm khắc thường gặp trên các bệ đá hoa sen thời Trần tìm thấy vào các giai đoạn sau này.

Thú vị là hai lớp cánh sen này, một ngửa một úp; lớp cánh sen úp chỉ là những cánh có tiếp diện nhìn nghiêng nằm úp xếp đều đặn với nhau; còn lớp cánh sen ngửa thì được xen kẽ giữa một cánh nhìn thẳng, một cánh nhìn nghiêng, khiến cho tiết điệu của các lớp cánh được thay đổi.

Trên mỗi đầu của các cánh sen lại được tạo bởi hai văn xoáy, và được điệp lại trên dìa cánh tạo nên sự sinh động, liên hoàn. Chúng góp phần tạo nên biểu tượng bông sen nghìn cánh như Hoa Nghiêm Kinh mô tả với những lớp chồng xếp sau trước, chứ không đơn thuần là hai lớp cánh được tạo hình một cách hết sức tượng trưng ở đây.

tinh tế không chỉ dừng lại ở việc tạo ra hai lớp cánh sen này. Người ta còn nhìn thấy một lớp cánh sen nhỏ hơn được tạc ở tầng đầu tiên của cây tháp, như nhấn mạnh cho ý nghĩa tháp được đặt trong lòng của một bông sen khổng lồ.

Bông sen đang tỏa hương khoe sắc trên mặt hồ được tượng trưng bằng những lớp sóng nước được chạm khắc ở ngay chân tầng tháp. Chúng tạo nên một sự tinh tế, trang nghiêm mà người thưởng ngoạn phải thật để tâm mới có thể thấy.

Hành với việc tạo tác một bông hoa sen khổng lồ, thì phần sân xung quanh tháp cũng được đào sâu xuống so với sân chùa và được kè vuông bốn phía. Điều này không chỉ có tác dụng làm cho móng tháp thêm vững chắc mà tạo ra biểu tượng hồ nước “Bích trì” trong đạo Phật.

Nó tạo ra một cái nhìn tổng thể từ chạm khắc cho đến kiến trúc và thiết kế không gian. Toàn bộ mô hình này của cây tháp khiến ta nhớ đến bức tranh “Hoa Tạng thế giới” trong kinh Tịnh Độ Tông, mà ngôi tháp giống như một sự hiện thực hóa của hình ảnh này bằng nghệ thuật kiến trúc.

Dáng của hoa sen cũng như sự sinh trưởng của nó còn mang lại cho ta những liên tưởng sâu sắc về cuộc sống. Rễ sen ăn sâu dưới bùn đại diện cho đời sống vật chất, cọng sen vượt ngang qua mặt nước tượng trưng cho cõi trung giới, còn hoa nở trong không khí trên mặt nước lại biểu thị cho thế giới tinh thần.

Sở dĩ, người ta cho rằng hoa sen gắn với đạo Phật, bởi ở trong hoa đã có quả hay còn gọi là: “vị liên cố hoa” tượng trưng cho một ý nghĩa “nhân quả” của Phật pháp. Đức Phật Thích Ca cũng đã dùng chính những ý nghĩa vi diệu này của hoa sen để chỉ ra: Phương tiện Phật hóa độ chúng sinh chính là Phật pháp Đại thừa. Trong đó, những mưu cầu giải thoát cho cá nhân được xem nhẹ mà đặt lên trên hết là sự mong muốn đi đến giải thoát cho tất cả, mong đem lại sự giác ngộ chân lý tới mọi chúng sinh trong cõi trần ai.

Niệm nhân sinh đó của Phật giáo Đại Thừa cũng chính là triết lý Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm thời Trần do vua Trần Nhân Tông sáng lập ra, nhằm mục đích gom toàn dân từ xác thịt đến linh hồn vào một khuôn khổ do họ Trần đặt ra. Điều đó biến Phật phái Trúc Lâm trở thành hình thái ý thức hệ của bộ ba “tam vị nhất thể” gồm Phật-Vua-Cha, phương tiện đắc lực giúp nhà Trần cai trị con dân. Trong đó, Vua-Cha là điều đã có sẵn trong Nho giáo, còn nhà Trần chỉ sáng tạo thêm Vua – Phật (Phật giáo) để biến các vua thành Thần-giáo chủ.

Ý nghĩa này cũng cho thấy tính chất cân bằng của Nho Phật trong triều đại nhà Trần. Việc hư cấu, mô phỏng cuộc đời Trần Nhân Tông từ lúc sinh thành cho tới khi lên ngôi rồi đắc đạo, giống như Thái tử Siddnartha trở thành Phật Tổ của nhà Trần không ngoài mục đích này. Thậm chí khi Trần Nhân Tông qua đời, những nghi thức mai táng cũng như thờ cúng ông đều được thực hiện giống như với một vị Phật.
Theo ghi chép về việc mai táng vua Trần Nhân Tông của tài liệu thế kỉ 19, đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng tháp Phổ Minh chính là ngôi tháp chứa xá lị của ông với hiện thân là một đóa sen vàng rực rỡ. Cây tháp chính là biểu tượng cho sự đồng nhất Vua – Phật, Phật – Vua. Cái tên Phổ Minh cũng phản ánh tư tưởng này của Phật phái Trúc Lâm. Đó là đem ánh sáng Phật, ánh sáng minh triết để giúp mọi sinh linh giác ngộ.

Do đó cây tháp vào giai đoạn này không còn chiếm vị trí trung tâm chùa như thời Lý, mà được đặt trước Tiền đường để trở thành biểu tượng phổ quang Phật pháp. Tháp Phổ Minh, vươn cao sừng sững như nối trời và đất, dù cách xa hàng cây số, người ta vẫn có thể trông thấy.

Nó vừa là điểm nhấn cho toàn thể kiến trúc chùa, và là cánh cổng mở ra thế giới tâm linh cho hàng nghìn tăng ni, phật tử hướng về. Có thể nói bằng hình tượng hoa sen, những nghệ nhân thời Trần đã mang đến một cách tiếp cận mới về đạo Phật thông qua kiến trúc, một cách thật cụ thể và hữu hình.


MỤC LỤC

 Triết Phật thời Lý, Giá trị văn hóa và ý nghĩa lịch sử. – 3 –

Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo thời Lý. – 11 –

Quan niệm về thế giới của các thiền sư thời Lý. – 12 –

Vô ngã, vô thường. – 13 –

Sắc – Không. – 13 –

Nhân sinh quan của các thiền sư thời Lý. – 15 –

Từ bi – 18 –

Giải thoát – 19 –

Triết lý Phật giáo thời Trần trong biểu tượng hoa sen. – 21 –

 

Giá trị về văn hóa của triết học Phật Giáo thời Lý và ý nghĩa lịch sử
Trong tiến trình phát triển của loài người, Ấn Độ được biết đến không chỉ là một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại, của Đạo Phật, mà đó còn là tư tưởng, triết lý về thế giới quan, nhân sinh quan trong thế giới cổ đại Ấn Độ.
Trong tiến trình phát triển của loài người, Ấn Độ được biết đến không chỉ là một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại, mà đó còn là nơi xuất của phật giáo, là tư tưởng, triết lý về thế giới quan, nhân sinh quan trong thế giới cổ đại Ấn Độ.
Tư tưởng, triết lý ra đời từ mấy nghìn năm trước đó đến nay vẫn còn có ảnh hưởng sâu rộng ở các dân tộc Á Đông, trong đó có Việt Nam.
Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI trước công nguyên, ở miền Bắc Ấn Độ, phía Nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nêpan bây giờ.
Phật giáo được ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, có thể nói rằng, ngay từ lúc mới ra đời, đạo Phật với triết lý đạo đức nhân sinh sâu sắc đã trở thành một trong những ngọn cờ trong phong trào đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội Ấn Độ đương thời.
Quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam được chia làm 3 thời kỳ chính: Thời kỳ từ đầu công nguyên; Thời kỳ độc lập tự chủ (938) qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến triều nguyễn; Thời kỳ Pháp thuộc và sau 1954.
Ở thời kỳ đầu công nguyên: Phật giáo được xác định là du nhập vào nước ta thế kỷ II-SCN bằng đường biển và đường bộ từ Ấn Độ và Trung Quốc tại Giao Chỉ và Chăm Pa; Trước nhà Đường xuất hiện dòng thiền đầu tiên là Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi (do ngài Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi người Ấn Độ sáng lập) ở nhà nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế, với tư tưởng thiền là “Tức tâm tức phật”; Thời nhà Đường xuất hiện dòng thiền thứ hai là Vô Ngôn Thông (do ngài Vô Ngôn Thông người Trung Quốc sáng lập), Với tư tưởng “Tức tâm tức phật” và có bổ sung phần y báo đức Phật trong tâm. Điểm nổi bật của dòng thiền này là sự xuất hiện hình thức Cư sĩ-Thiền sư.
Ở thời kỳ độc lập tự chủ, trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến triều Nguyễn: Nhà Đinh và Tiền Lê đã đưa Phật giáo lên thành quốc giáo với chức tăng thống và thiền sư có vai trò cố vấn cho các nhà vua; Thời nhà Lý, Phật giáo phát triển cực thịnh, là quốc đạo và xuất hiện dòng thiền thứ ba là Thảo Đường (do ngài Thảo Đường người Trung Quốc sáng lập).
Điểm nổi bật của dòng thiền này là vai trò của giới cư sĩ được khẳng định một cách chính thức. Giai đoạn này có sự hiện diện của cả 3 dòng thiền và Phật giáo có xu hướng nhập thế mạnh mẽ; Nhà Trần là triều đại của Phật giáo với vai trò nổi bật của Trần Nhân Tông-Người sáng lập ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Tư tưởng của dòng thiền này là phát triển đỉnh cao quan niêm “Tức tâm tức phật”; Thời Hậu Lê Phật giáo chính thức bước vào thời kỳ suy thoái với nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là do Hồ Quý Ly ra sức phát triển Nho giáo vào cuối thế kỷ XIV và nhà Minh xâm lược Đại Việt vào đầu thế kỷ XV; Sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê thì nước ta chia cắt thành xứ đàng trong (vua Lê-chúa Trịnh) và đàng ngoài (chúa Nguyễn).
Xứ đàng trong Phật giáo phát triển mạnh trên cơ sở một nền học lý mới nhờ vai trò của chúa Nguyễn Phúc Chu (được ví là Trần Nhân Tông thứ hai trong lịch sử Phật giáo), nền học lý mới đó là dòng Tào Động, dòng Lâm Tế. Xứ đàng ngoài ảnh hưởng mạnh mẽ dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Khi Gia Long lên ngôi vào đầu thế kỷ XVIII, xã hội Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng tư tưởng trầm trọng, đất nước rơi vào họa ngoại xâm, phật tử và nhân dân tự đứng dậy khởi nghĩa.
Ở thời kỳ Pháp thuộc và sau năm 1954: Thời Pháp thuộc, Thiên Chúa giáo được hậu thuẫn và Phật giáo bị khủng bố, đàn áp gắt gao vì thế Phật giáo giai đoạn này có xu hướng nhập thế và chấn hưng mạnh mẽ; Sau 1954, trên cả hai miền Nam Bắc, Phật giáo đều chưa có cơ hội để phát triển, nhưng sau 1990 nhờ chính sách tự do tôn giáo của Đảng và nhà nước, Phật giáo có điều kiện phát triển mạnh mẽ và dần lấy lại vị thế của mình.
Có thể nói rằng, trong hơn 20 thế kỷ qua, Phật giáo đã có một vai trò, vị trí quan trọng nhất định trong lịch sử dân tộc, nhất là Phật giáo Lý – Trần đã thể hiện trí tuệ và từ bi sâu sắc bằng sự nhập thế sinh động và đa dạng qua tư tưởng, lời nói, hành động gắn bó với cuộc sống an vui hạnh phúc của dân tộc. Cả hai triều đại Lý–Trần, Phật giáo đã trở thành quốc giáo.
Thâm nhập giáo lý nhà Phật qua chính sách an dân trị nước nên các vua Lý – Trần đã chinh phục trái tim, khối óc con người bằng đức trị thay pháp trị. Đạo đức vô ngã đã tạo cho con người một cuộc sống hòa hợp, giản dị nhưng tạo lực tác động mạnh mẽ vô cùng.
Vì thế cả hai triều đại Lý – Trần đều tồn tại khá lâu. Triều Lý hơn 200 năm (1010 – 1225) và Triều Trần gần 200 năm (1226 – 1400). Có thể nói đây là thời đại cực thịnh của Phật giáo Việt Nam mà cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà. Các vua thời đại Lý – Trần được thừa hưởng những thành qủa tốt đẹp của thế hệ trước, đồng thời biết phát huy những tinh hoa gạn lọc được từ bên ngoài biến thể sao cho phù hợp với quốc dân thủy thổ mà không đánh mất bản sắc dân tộc.
Nhà Lý mở đầu là Lý Công Uẩn vào năm 1010 và kéo dài cho đến năm 1225, kết thúc ở đời thứ chín là Lý Chiêu Hoàng. Triều đại nhà Lý tồn tại khoảng 215 năm, với khoảng thời gian ấy đã tạo ra được bề dày lịch sử của một quốc gia phong kiến độc lập có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê do phải tiến hành những công việc như: bảo vệ đất nước, củng cố quốc gia sau thời gian Bắc thuộc hàng ngàn năm nên chưa có điều kiện để quan tâm phát triển văn hóa, tư tưởng… Đến nhà Lý đã từng bước chủ động, tích cực xây dựng và phát triển diện mạo văn hóa, tư tưởng với một quốc gia phong kiến độc lập.
Nếu như Nho giáo là công cụ của đội quân xâm lược nên không nhận được cảm tình của dân tộc ta thì Phật giáo lại khác hơn, Phật giáo được dân tộc ta tiếp nhận một cách hòa bình, tự giác trên tinh thần thân thiện, cởi mở, vì vậy Phật giáo sớm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và cả lĩnh vực chính trị từ thời Ngô, Đinh, tiền Lê, Lý, Trần…
Những vấn đề về quản lý xã hội, những phạm trù đạo đức của xã hội, của cá nhân nhằm duy trì trật tự xã hội của Nho giáo đã đáp ứng nhu cầu ổn định xã hội của triều đình phong kiến.
Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, nhu cầu về sự kiến giải vấn đề sống-chết, may-rủi, họa-phúc, vấn đề tâm linh của con người… thì Nho giáo không thể đáp ứng được.
Cho nên với nội dung tư tưởng của mình Phật giáo đã đáp ứng được nhu cầu đó. Trước khi Nho giáo chưa được nhà Lý chủ động sử dụng thì Phật giáo đã có ưu thế trong xã hội. Nhà chùa với nước phong kiến có quan hệ khá mật thiết, nhà chùa cung cấp cho nhà vua những trí thức Phật giáo để phục vụ chính trị, đặc biệt là trong công việc bang giao với nước khác.
Các nhà sư đều được nhà vua trọng dụng, hỏi ý kiến trong việc kiến thiết, xây dựng, củng cố, phát triển đất nước, thậm chí kể cả công việc đánh giặc để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia dân tộc.
Từ thế kỷ XI cho đến khoảng hết thời nhà Lý, Phật giáo ảnh hưởng khá sâu sắc trong đời sống xã hội nước ta, trước hết là người lập nên nhà Lý là vua Lý Công Uẩn có lý lịch xuất thân từ nhà chùa và các nhà sư là những người hậu thuẫn cho sự lên ngôi của Hoàng đế Lý Công Uẩn.
Sau đó là hàng loạt các nhà vua đi tu như Lý Thánh Tông là đời thứ nhất của phái Thảo Đường, Lý Anh Tông là đời thứ ba của phái Thảo Đường, Lý Cao Tông là đời thứ năm của phái Thảo Đường, Lý Huệ Tông. Nhìn chung, tư tưởng Phật giáo thời kỳ này ảnh hưởng rất lớn không chỉ trong đời sống tinh thần của xã hội mà đến cả tình hình chính trị của dân tộc.
Tư tưởng Phật giáo thời kỳ này chủ yếu là các dòng Thiền tông như dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, dòng Vô Ngôn Thông, dòng Thảo Điền. Nhìn chung tư tưởng Phật giáo vào Việt Nam mang xu hướng nhập thế, các nhà vua đi tu nhưng vẫn luôn hướng về những vấn đề hưng vong, thịnh suy của dân tộc.
Các nhà vua đi tu, một mặt tìm sự giải thoát tinh thần, mặt khác lại quan tâm đến nhân tình thế thái, mong sự giải thoát cho nhân dân khỏi sự khổ ở đời.
Tư tưởng Phật giáo thời Lý mặc dù vẫn tôn trọng những tư tưởng Phật giáo nguyên thủy của Ấn Độ, nhưng không tách biệt đời với đạo như Phật giáo Ấn Độ, mà ngược lại gắn đạo với đời. Trong tư tưởng Phật giáo ở giai đoạn này, quan niệm sự khổ không nặng nề, bi quan, yếm thế như Phật giáo nguyên thủy.
Người ta có thể tìm thấy chuyện trai gái lên chùa mượn chiếu, mượn ấm trà để tình tự với nhau như lẽ sống thường tình. Cũng trong thời kỳ này, cùng với nền giáo dục Nho học, nhà chùa cũng trở thành nhà trường, nhà sư cũng chính là nhà giáo dục, trong môi trường ấy đã tạo ra những trí thức Phật giáo và chính họ là những nhà truyền bá tư tưởng đạo Phật trong nhân dân, cung cấp những hiểu biết về đời sống tâm linh, tinh thần ở các khía cạnh Nho giáo chưa đề cập đến.
Có thể nói rằng, Phật giáo Việt Nam giai đoạn thời Lý đã đóng một vai trò khá quan trọng trong nền giáo dục thời Lý và góp phần đào tạo ra những nhà lãnh đạo song toàn, điều này chứng tỏ nền giáo dục Việt Nam và Phật giáo Việt Nam giai đoạn thời Lý đã thể hiện chức năng đào tạo hiệu quả, sản sinh ra những nhà trí thức có khả năng gánh vác không chỉ việc đạo mà còn cả việc nước, việc dân như: Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thái Tổ… và xét trên bình diện xã hội, Phật giáo còn giáo dục con người trước sau như một, trung thành với nước, với dân.
Đến thời Lý, nền văn hóa nước ta đã có bề dày hơn 3000 năm, trong đó, sự xuất hiện của Phật giáo là khoảng 100 năm. Nền văn hóa thời Lý tuy vẫn chịu ảnh hưởng của ngàn năm Bắc thuộc nhưng cũng đã dần khẳng định tính tự tôn của nước Đại Việt mà sự đóng góp của Phật giáo là rất rõ nét, thể hiện qua những giá trị vật thể và phi vật thể, chính điều đó đã làm phong phú thêm cho nền văn hóa dân tộc.
Phật giáo thời Lý đã để lại những công trình văn hóa tín ngưỡng có giá trị cho dân tộc, điển hình là bốn công trình lớn là “An Nam tứ đại khí” (bốn nguyên khí trấn giữ nền độc lập của nước Nam). Trong đó: Một là: Tháp Báo Thiên, “bảo tháp Đại thắng Tự Thiên cao vài chục trượng” [1, 272] được xây dựng vào năm 1057 ở chùa Sùng Khánh.
Tháp này cao mười hai tầng, mỗi viên gạch đều khắc niên hiệu Long Thụy Thái Bình. Nhưng đến thời Hồ, ngọn tháp này đã đổ. Đến năm 1427, Lê Lợi làm cái đồn canh gác trên tháp để quan sát giặc.
Đến thời “quân xâm lược Pháp chiếm đóng Hà Nội đã bị cha cố đạo Puginier làm đơn cưỡng chiếm, lấy đất làm ngôi nhà thờ lớn Hà Nội tồn tại cho đến ngày nay. Dù thế, chùa tháp Báo Thiên từng một thời là biểu tượng của sức mạnh Đại Việt” [3, 36]. Hai là: Tượng Quỳnh Lâm được đúc bằng đồng ở chùa Quỳnh Lâm, Ba là: Chùa Phổ Minh ở Nam Định, Bốn là: Chuông Quy Điền (nghĩa là chuông không kêu, nên đặt xuống ruộng), đúc năm 1080 ở chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) [1, 280].
Ngoài bốn công trình trên, nhà Lý còn để lại những di tích mà hiện nay vẫn còn như Quán Trấn Vũ (1102) [1, 284], đền Hai Bà… và nhiều cung điện ở Thăng Long, những nơi này không những là địa điểm sinh hoạt văn hóa, giáo dục của mọi tầng lớp nhân dân mà còn thể hiện giá trị về mặt kiến trúc, mang triết lý sâu sắc mà bình dị thể hiện được tính dân tộc của Phật giáo.
Bản sắc văn hóa là nguồn gốc, là sức mạnh tinh thần vô hình tác động rất mạnh cho mọi sự phát triển, đó cũng là nét đặc thù của dân tộc.
Văn hóa Phật giáo là một bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa dân tộc, chính vì vậy, việc củng cố và phát huy vài trò của Phật giáo có một ý nghĩa lớn đối với cuộc vận động “toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” hiện nay.
Vì rằng, đối với tất cả người dân Việt Nam, dù có theo Phật giáo hay không đều ít nhiều hiểu tư tưởng của như triết lý nhà Phật, bởi vì đó là một phần truyền thống của cha ông, sẽ là bất khả nếu muốn nghiên cứu văn hóa Việt Nam mà không nói đến Phật giáo và ngược lại.
Hiện nay Phật giáo vẫn còn là một tác nhân tác động mạnh trong xã hội. Chúng ta dễ nhận thấy Phật giáo đã mang đến cho người Việt những ngôi chùa cổ kính, những pho tượng bề thế rải khắp xóm làng làm tăng lòng từ bi và hướng thiện của người bình dân.
Phật giáo đã đưa đến một trung tâm văn hoá làng một thời sôi động. Phật giáo cũng đã mang đến trong tâm hồn người Việt một đời sống tâm linh sâu đậm từ khi du nhập cho đến nay. Trong lịch sử, Phật giáo cũng luôn gắn liền với vận mệnh của dân tộc, giai đoạn thời Lý, ông cha ta đã nhận thức được tầm quan trọng của một nền văn hóa độc lập tự chủ, vì văn hóa là linh hồn của dân tộc.
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển về văn hóa truyền thống và có nhiều chính sách nhằm bảo vệ và phát huy những giá trị đó, tầm quan trọng của văn hóa cũng được Đảng và Nhà nước ta nhìn nhận: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội” [2, 110] và đề ra chủ trương “xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Đây là một chủ trương kịp thời và đúng đắn, và Phật giáo với những giá trị của mình sẽ góp phần thực hiện nhiệm vụ này, sẽ là quá muộn nếu chúng ta không có những nhận thức đúng đắn và đầy đủ về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa quá khứ và hiện tại, cũng như không nắm vững qui luật phát triển văn hóa – xã hội ở từng thời kỳ, chính vì vậy, việc phát huy bản sắc dân tộc phải được xem là nhiệm vụ của mỗi cá nhân, gia đình và của toàn xã hội.
Năm 2010, nước ta sẽ tổ chức đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đây là hoạt động vừa hướng về nguồn cội thiêng liêng của dân tộc, nhưng đồng thời cũng là sự kiện lớn, có ý nghĩa quan trọng liên quan đến nỗ lực bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đối với việc xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Ths. Trần Mai Ước
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, t.1,2.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
3. Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam từ Lý Thánh Tông (1054) đến Trần Thánh Tông (1278), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, t.3.