Keep the memories

LỜI CẢM ƠN

 

Xin chân thành
cảm ơn Khoa Đông Phương Học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Thành Phố
Hồ Chí Minh.

Xin chân thành cảm ơn (Thầy) Gs Ts. Mai Ngọc Chừ, người đã tận tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức
nền tảng về Văn Hóa
+Nông nghiệp trong trong khung chương trình giảng
dạy làm tiền đề cho em hoàn thành tiểu luận này.

Xin chân thành cảm ơn các bạn trong lớp đã tư vấn,
chia sẽ và giúp đỡ tài liệu, động viên trong suốt thời gian hoàn thành tiểu luận
này.

Mặc dù đã rất cố gắng chắt lọc tìm tòi nghiên cứu để
hoàn thành tiểu luận trong khả năng có thể, nhưng chắc chắn còn rất nhiều điều
thiếu sót.

Xin
hân hạnh được nhận những lời khuyên, sự tận tình chỉ bảo và sự cảm thông của
quí thầy cô và bạn bè.

                                                                               Thực hiện

 

                                                       Nguyễn
Đức Khanh


 

 

MỤC LỤC

1.      LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. 6

2.      MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.. 6

3.      LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.. 6

4.      ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.. 7

5.      Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC
TIỄN
.. 7

6.      PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ
NGUỒN TƯ LIỆU
.. 7

7.      BỐ CỤC.. 7

PHẦN I. 8

TỔNG QUAN.. 8

CÂU CA DAO-TỤC NGỮ NÓI VỀ
NÔNG NGHIỆP
.. 8

Giới thiệu. 8

Tiểu kết 17

PHẦN II: 18

“CON TRÂU”. 18

BIỂU TƯỢNG NÔNG NGHIỆP
TRONG CA DAO
.. 18

Lời dẫn. 18

Tiểu kết 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 21


 

 

  1. 1.
    LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sinh ra và lớn lên tại vùng quê của “Chị Hai năm tấn”, một trong những
vùng nông nghiệp trù phú của Việt Nam, với biết bao đời, bao thế hệ gắn bó với
lũy tre làng, với con đê, với những cánh đồng mênh mông bát ngát, v.v.v. và đặc
biệt tuổi thơ cũng đã từng chăn trâu cắt cỏ nên thấm đẫm vào trong tâm trí những
dòng cao dao, tục ngữ đậm chất nông nghiệp, lớn lên vì cuộc sống nên tha phương
học tập, tuy nhiên trong lòng vẫn luôn hướng về quê nhà đặc biệt là những kỷ niệm
thiếu thời thơ ấu, nhất là mỗi khi có ai đó nhắc nhớ về quê hương về nguồn gốc
nông nghiệp thì những kỷ niệm đó lại trở về, và đặc biệt hơn nữa khi mà được thể
hiện nỗi niềm này qua một chuyên đề trong chương trình đào tạo chuyên sâu, đây
cũng là lý do chính và cũng như là một dịp để thể hiện tình cảm của mình với “gốc
lúa bờ tre”, nơi đã nuôi mình khôn lớn.

  1. 2.
    MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Ngày nay khi khoa học phát triển, những dự báo cho “tương lai gần” ở mức
độ chính xác khá cao trong tất cả cách lĩnh vực trong cuộc sống đặc biệt trong
lĩnh vực dự báo thời tiết, các chương trình dự báo thời tiết có mặt hầu hết
trên tất cả các đài phát thanh và truyền hình từ trung ương cho tới địa phương,
tuy nhiên ở mức độ “tương lai xa” thì những dự báo này cũng chỉ ở mức tương đối
mặc dù công nghệ ngày nay đã rất hiện đại. ngược thời gian để quay trở lại thời
xa xưa khi máy móc và công nghệ giường như chỉ là con số 0 tuy nhiên các thế hệ
trước đã biết dựa vào kinh nghiệm trong cuộc sống và được đúc kết hàng ngàn thế
hệ để đưa ra những dự báo cho nghề mà nuôi sống chính bản thân họ đó là nghề
nông, từ những kinh nghiệm truyền đạt ngàn đời đó cộng với công nghệ hiện đại
ngày nay mà đưa ra những dự báo tốt hơn. Nói tóm lại mục đích nghiên cứu là làm
sao từ những kinh nghiệm đó mà công nghệ, khoa học hiện đại có thể phát huy tối
đa để đưa ra những dự báo chính xác hơn nữa cho ngành nông nghiệp.

  1. 3.
    LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa ca dao tục ngữ
trong dự báo nông nghiêp thời xa xưa và những mối liên hệ hay tiền đề cho khoa
học dự báo thời tiết ngày nay, tuy nhiên nó vẫn chưa đủ hoặc chưa tận dụng triệt
để được những dự báo đó, hơn nữa nó là những công trình thiên về mặt thực nghiệm
khoa học mà ít đánh giá về tính chất văn hóa của nó, trong tiểu luận này chúng
ta chủ yếu nhìn đến những giá trị văn hóa trong khoa học ca dao tục ngữ.

  1. 4.
    ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Những câu tục ngữ, những bài cao dao và những câu truyện truyền miệng có
liên quan đến nông nghiệp.

  1. 5.
    Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Ý nghĩa khoa học: khoa học hóa các câu ca dao, tục ngữ đánh giá đúng mức
mực dự báo của các câu ca dao tục ngữ, để dự báo chính xác hơn nữa cho ngành
nông nghiệp.

Ý nghĩa thực tiễn: ngành nông nghiệp luôn luôn gắn bó mật thiết với
thiên nhiên do đó đánh giá đúng được các câu cao dao tục ngữ để đưa ra những dự
báo phù hợp là rất quan trọng cho người nông dân.

  1. 6.
    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

Là tổng hợp các bài viết, các công trình nghiên cứu về nông nghiệp từ
trước đến nay cộng với những kinh nghiệm do hiện thực khách quan mang lại từ
kinh nghiệm sống và làm việc trong nghề nông nhiều năm.

Nguồn tư liệu được thu thập nhiều trên sách báo và các trang web có liên
quan

  1. 7.
    BỐ CỤC

Toàn bộ phần nội dung được chia thành 2 nội dung chính nằm ở 2 Phần, Phần
1 khái quát về cao dao, tục ngữ và đặc biệt là những câu cao dao tục ngữ có
liên quan đến nông nghiệp, Phần 2 là hình ảnh “con trâu” một biểu tượng của nền
văn hóa nông nghiệp truyền thống, một trong những con vật được cao dao, tục ngữ
đề cập đến sớm nhất và nhiều nhất.

Phần I: Tổng quan ca dao-tục ngữ về nông nghiệp

Phần II: “Con trâu” biểu tượng nông nghiệp trong ca dao tục ngữ

PHẦN I

TỔNG QUAN

CÂU CA DAO-TỤC NGỮ NÓI VỀ NÔNG NGHIỆP

Giới thiệu.

Lúc mới
hình thành khung tiểu luận, người thực hiện muốn phân chia ra làm nhiều mục
trong một chương nhỏ như: cao dao, tục ngữ nói về thời tiết, nói về thời
..v.v., tuy nhiên sự phân chia như vậy khó mà rõ ràng được vì đôi khi nó bị giằng
co bởi những câu có tính chất chứa cả hai nội dung trên, do đó xin mạn phép
ghép chúng chung lại thành một bài dạng viết liên tiếp trong mỗi phần.

Một nhà biên
khảo, học giả lỗi lạc từng gọi Tục ngữ, Ca dao là Kinh Thi
Việt Nam

 Với chúng ta,Tục ngữ và Ca dao là kho tàng kiến thức của tiền nhân
ta chung góp lại, truyền miệng từ một người sang nhiều người, nhiều nhóm người,
qua nhiều thời đại cho đến nay. Vì vậy Tục ngữ, Ca dao không chỉ rõ tác giả hay
tác giả là tòan thể dân tộc.

Giáo sư Dương
quảng Hàm trong Việt Nam Văn học sử yếu định nghĩa Tục ngữ như sau: “Tục: thói
quen đã có lâu đời; ngữ: lời nói.” Tục ngữ là những câu nói gọn ghẽ và có ý
nghĩa lưu hành tự đời xưa, rồi do cửa miệng người đời truyền đi. Tục ngữ còn gọi
là ngạn ngữ vì chữ ngạn nghĩa là lời nói của người xưa truyền lại.” Giáo sư Dương quảng Hàm cũng chia tục
ngữ ra làm hai lọai:

Những câu vốn
là tục ngữ, tức những câu nói thường do một người phát ra trước tiên rồi vì nó
xác đáng, nó gọn ghẽ, người khác nghe đến nhớ ngay cứ thế nhắc lại mà truyền đến
bây giờ.

Những câu vốn
là thơ ca.Thí dụ:Thương người như thể thương thân, vốn là một câu trong Gia Huấn
ca của Nguyễn Trãi.

Còn Ca dao là
những bài hát ngắn, có vần có điệu, theo thể thơ lục bát, lục bát biến thức hay
thơ bốn chữ, thơ năm chữ, cũng là truyền khẩu, mô tả tình cảm, tính tình hay
phong tục của người dân quê.

Trong bài tiểu luận này, người
viết trước tiên chú ý đến những câu Tục ngữ, Ca dao giúp nhà nông làm ruộng vì
nước ta từ hồi lập quốc, sau thời kì du mục, vốn là một nước lấy nông nghiệp
làm căn bản (dĩ nông vi bản).

Nền nông nghiệp
còn phôi thai nên trông cậy vào thời tiết rất nhiều. Mưa thuận gió hòa thì được
mùa, người người no ấm; nhà nhà vui tươi. Mưa giông bão dữ hay lụt lội, mùa
màng thất bát, đói khổ trông thấy. Vì vậy thời tiết là câu cửa miệng mọi người
trao đổi những khi gặp nhau:

Gió này ngày
mai mưa không?

Coi trăng buổi
tối, điềm này có lẽ hạn hán mất!

Nắng tốt dưa,
mưa tốt lúa.

Dưa gang, dưa
hồng, dưa hấu, dưa chuột (leo) chỉ cần một lượng nước vừa phải, nước nhiều sẽ
làm thối rễ. Trái lại, lúa thì càng nhiều nước càng tốt. Có những lọai lúa, nước
dâng cao tới đâu, lúa trồi lên tới đó.

Muốn cho lúa
tốt, thu họach khá, ông bà ta dạy con cháu:

Ăn
kĩ no lâu

Cày sâu tốt
lúa.

Khi xưa, một
năm cấy được hai vụ lúa, vụ chiêm tháng 5 và vụ mùa tháng 10. Sau vụ mùa, muốn
cho ruộng lấy lại mầu mỡ như trước, ngòai phân bón, nông dân phải cày vỡ xong xếp
những tảng đất ấy lên như ta xếp gạch, hòn nọ chồng trên hòn kia, cao khỏang
80-100cm, kéo dài suốt chiều dọc hay chiều ngang của ruộng, gọi là xếp ải. Mặt
trời rọi ánh nắng mùa Đông qua những chồng ải và gió heo may hun hút thổi làm đất
khô đi, mềm tơi ra, lấy lại những chất mầu mỡ nhất là khi ải gặp nước liền tan
ra dễ dàng vì đất trở nên xốp, cây lúa gặp đất này là bắt rễ nhanh chóng, phát
triển mau lẹ. Nếu không xếp ải, đất bị chai, quánh, cứng như đá cây lúa khó
lòng bắt rể và nẩy nở được.

Ải đã phơi
kĩ, đủ nắng nhưng khi đổ ải không nhiều nước thì cũng không tốt:

Ải thâm không
bằng dầm ngấu.

Việc chọn giống
thóc tốt rất ảnh hưởng đến cây lúa sau này:

Tốt
giống, tốt mạ.

Tốt mạ, tốt
lúa.

Nhà nông phải
biết những nguyên nhân làm cây lúa không phát triển, như mùa Đông heo may se lạnh
quá lúa co cụm lại, mùa Hè ruộng thường thiếu nước:

Đông
chết se

Hè chết nước.

Làm ruộng phải
đúng thời tiết mới mong có kết quả tốt. Làm trái thời tiết dễ thất bại:

Bươn chải
không bằng phải thì.

Có nhiều người
cứ nghĩ mỗi cụm lúa là một lượm lúa nên cố cấy dày. Cấy dày quá cây lúa chen
chúc không đủ đất ăn sẽ không cho thóc:

Cấy
thưa thừa thóc

Cấy
dày cóc được ăn.

Cấy thưa hơn
bừa kĩ..

Thừa mạ thì
bán, chớ có cấy dày ăn rơm. Theo kinh nghiệm, người thợ cấy biết phải đặt cây
lúa cách khỏang bao nhiêu, thí dụ hai gang tay một cây thì cứ con mắt họ nhìn
cũng y khỏang cách, không sai biệt bao nhiêu.

Vụ lúa mùa,
phải cấy sâu cây lúa mới vững. Còn vụ chiêm, vì đã xếp ải lại nhiều nước, cấy
nông hơn cây lúa cũng dễ bắt rễ.

Tháng
sáu thì cấy cho sâu

Tháng chạp cấy
nhảy mau mau mà về.

Khi cây lúa
đã cấy xong rồi, có hai việc cần làm thường xuyên để săn sóc ruộng lúa là cào cỏ
và tát nước. Ruộng không thể để khô, nếu thấy ruộng kém nước là phải tát nước
vào. Cây lúa mọc lên, cỏ cũng cứ thế mọc theo, tranh đất với lúa. Lúc này các
cô thôn nữ phải cầm mỗi người một cái cào ra ruộng, đi từng luống cào cho cỏ bật
gốc và cỏ sẽ chềt. Những dúm cỏ đó, các cô dùng chân đạp dúi sâu xuống bùn, cỏ
thối ra lại thành phân bón lúa.

Nắm cỏ, giỏ
thóc.

Như đã nói,
làm nghề nông ở xứ ta dựa vào thời tiết rất nhiều. Nếu không đóan được thời tiết
nhiều khi hư hỏng cả vụ lúa đã đến lúc được ăn:

Xanh nhà hơn
già đồng

nghĩa là thà
gặt non một chút đưa về nhà còn hơn để ở ngòai đồng lỡ mưa gió giông bão đến bất
ngờ, lúc đó không kịp gặt thì gần như mất trắng.

Lúa gặt về
sân rồi, phải qua nhiều công đọan mới thành ra những thúng thóc. Ngày mùa, mưa
gió là đại họa cho nông dân:

Cơn
mưa đằng đông vừa trông vừa chạy

Cơn
mưa đằng tây mưa dây bão giật

Cơn
mưa đằng nam vừa làm vừa chơi

Cơn mưa đằng
bắc đổ thóc ra phơi

Thời khóa biểu
phải sắp cho đâu vào đó:

Nắng
sớm trồng cà

Mưa sớm ở nhà
phơi thóc

Mưa sớm tức
lúc còn đêm thì sáng sẽ tạnh, sẽ có mặt trời, ở nhà đem thóc ra phơi

Nửa đêm thấy
hiện tượng trên trời nhà nông cũng đóan được ngày hôm sau ra sao:

Chớp đông
nhay nháy, gà gáy thì mưa.

Nhưng cũng đừng
chểnh mảng với công việc, hãy chuẩn bị khi trời lại đẹp trở lại:

Mưa chẳng qua
ngọ, gió chẳng qua mùi.

Ngọ là giữa
trưa, Mùi là sau đó một giờ. Khi xưa, tiền nhân chúng ta chỉ dùng âm lịch như
người Hoa nên mặt trăng lấy làm căn cứ và rất quan trọng trong cách tính này.
Người nông dân cứ theo câu ca sau đây mà biết hình dáng mặt trăng lớn nhỏ sẽ
như thế nào, bởi nhiều ngày mùa hè, tối vẫn còn phải làm khi có ánh trăng soi
sáng:

Mồng
một không trăng

Mồng
hai lá lúa (rất nhỏ)

Mồng
ba câu liêm

Mồng
bốn lưỡi liềm

Mồng
năm liềm giật

Mồng
sáu thật trăng

——————–

Mười
rằm trăng náu

Mười
sáu trăng treo

Mười
bảy sảy giường chiếu

Mười
tám trăng lẹm

Mười
chín dụn dịn

Hai
mươi giấc tốt

Hăm
mốt nửa đêm

Hăm
hai bằng tai

Hăm
ba bằng đầu

Hăm
bốn ở đâu

Hăm
lăm ở đấy

Hăm
sáu đã vậy

Hăm
bảy làm sao

Hăm
tám thế nào

Hăm
chín thế ấy

Ba mươi không
trăng.

Người nhà
nông thường nhìn trăng mỗi tối để đóan thời tiết cho ngày hôm sau:

Trăng quầng
thì hạn, trăng tán thì mưa.

Muốn ăn lúa
tháng năm, trông trăng rằm tháng tám.

Muốn ăn lúa
tháng mười, trông trăng mồng tám tháng tư.

Mùa hè, nhìn
sao dễ biết nhất, nhìn mây dễ nhận ra trời sẽ nắng hay mưa:

Dày sao thì nắng,
vắng sao thì mưa.

Mây xanh thì
nắng, mây trắng thì mưa.

Không phải những
nhà thiên văn học có thiên lí kính, người nông dân vẫn biết sao to hơn trăng
nhiều:

Ông trăng một
sào, ông sao một mẫu.

Nước mưa từ
trời rơi xuống vào đúng lúc cần cho cây lúa thì quan trọng vô cùng:

Mồng
tám tháng tư không mưa

Bỏ
cả cày bừa mà lấp (vất) lúa đi

Bao
giờ cho đến tháng mười

Lúa tốt bời bời
nhà đủ người no.

Mưa quan trọng
bậc nhất vì dẫn thủy nhập điền còn quá thô sơ, máy móc không có, sức người có hạn
trong khi cây lúa thiếu nước là chết khô:

Mồng
chín tháng chín không mưa

Mẹ
con bán cả cày bừa mà ăn

Mồng
chín tháng chín có mưa

Mẹ con đi sớm
về trưa mặc lòng.

Phải thì, phải
tiết, không gió bão là điều nhà nông mong mỏi:

Ơn
trời mưa nắng phải thì

Nơi
thì bừa cạn, nơi thì cày sâu

Công
lênh chẳng quản ai đâu

Ngày
nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.

Cảnh tượng đầm ấm và yên vui, trời
và người cùng hòa một điệu:

Tháng
chạp cày vỡ ruộng ra

Tháng
giêng làm mạ mưa sa đây đồng

Ai ơi cùng vợ cùng chồng

Chồng cày vợ
cấy con trâu đi bừa.

Cầu vồng ngũ
sắc cũng cho những tin tức về mưa gió. Cầu vồng rạp (thấp) khác với cầu vồng
cao:

Vồng rạp mưa
rào, vồng cao gió táp

Cầu vồng có đọan
chân gọi là mống. cũng có thể cho tin tức:

Mống dài trời
lụt, mống cụt trời mưa.

Ngòai cầu vồng
và mống, nông dân còn nhìn ráng – do ánh mặt trời rọi vào mây mà thành ra .
Ráng cũng cho tin tức về thời tiết:

Ráng
mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa.

Ráng
vàng thì nắng, ráng trắng thì mưa.

Mỡ gà mầu
vàng nhạt, mỡ chó mầu trắng bệch.

Mùa hè, mây
đen hay trắng thường cuốn lên như cái vòi hay như một cây cột cao ở chân trời.
Nông dân gọi là vòi rồng đang lấy (hút) nước.

Rồng
đen lấy nước thì nắng

Rồng trắng lấy
nước thì mưa.

Thời tiết
luôn luôn quan trọng nhưng nó nằm ngòai tầm tay của con người: Cau không ưa nước
lắm:

Được mùa cau,
đau mùa lúa

Nước mưa rót
xuống ngọn cau, theo thân cau chảy xuống, ngươi ta bắt vòi bằng một tầu cau để
hứng nước mưa vào bể nước, dùng để nấu nướng vì nước giọt cau sạch trong khi nước
sông, nước ao chỉ để rửa ráy, giặt giũ.

Tre ngà trổ
hoa, lúa mùa rồi hỏng

Tháng tám mưa
trai, tháng hai mưa thóc.

Trai đây có lẽ
là trai sò dưới sông được dịp sinh sôi. Mùa đông gió bấc từ hướng bắc thổi xuống,
khô và se lạnh. Mưa phùn, gió bấc hay mưa dầm gió bấc cho biết thời tiết khó chịu.
Miền Bắc Việt có khi mưa suốt cả tuần. Trồng tỉa cũng phải tránh gió bấc:

Bốc
mả kiêng ngày trùng tang

Trồng
lang kiêng ngày gió bấc

Trùng tang là
hai cái tang một lúc. Trồng dây lang ngày gió bấc, lang dễ bị héo bị khô, dễ chết.
Cây cỏ cũng cho những điềm báo thời tiết:

Mùa hè đang nắng,
cỏ gà trắng thì mưa.

Cỏ gà mầu trắng,
điềm nắng đã hết.

Cỏ gà là lọai
cỏ ăn lan rất mạnh, khi già cho những cái dây đầu nở phình to như cái đầu con
gà, trẻ nhỏ vẫn thường lấy chọi vào nhau xem cỏ anh nào dai. Rễ cây si nếu tự
nhiên đâm ra trắng thay vì nâu cũng là:

Rễ
xi đâm trắng phau phau

Mưa
to gió lớn rủ nhau cùng về.

Khi nghe những
con diều hâu rít lên trên không trung hay thấy kiến cánh bay ra, chuồn chuồn
bay nhiều ắt là có thay đổi thời tiết:

Diều
hâu rít lưỡi, lạnh giá tới nơi

Kiến cánh vỡ
tổ bay ra, bão táp mưa sa gần tới.

Tháng bảy heo
may, chuồn chuồn bay thì bão.

Tục ngữ cũng
dạy cách trồng cây sao cho hợp lí, như cau chỉ lưa thưa mấy cành lá nhỏ, ít
bóng râm, nên trồng ở sân trước vì cần ánh nắng phơi phóng lúa thóc, vải sồi;
còn chuối đẻ ra từng bụi, nhiều bóng râm thì nên trồng ở vườn sau:

Chuối đàng
sau, cau đàng trước.

Nhiều thứ cây
phải dùng vồ đập gọi là “khảo” như ăn cướp khảo của khổ chủ, nó mới chịu đâm
bông kết trái. Mít là lọai này, người ta lấy vồ đập mạnh vào gốc mít ngáy tết
Đoan ngọ hay cắt bớt cành để nó “bói” trái. Còn chanh thì phải xới đất xung
quanh cho xốp nhiên hậu mới nhiều quả.

Mít chạm
cành, chanh chạm rễ.

Hình thù các
trái cũng cho biết nó ngon hay không:

Mít tròn, dưa
méo, thị vẹn trôn.

Thị là quả thị
cùng họ với hồng, có mùi thơm ngào ngạt khi chín, thịt nhão hơn hồng và có hột
khá to. Vẹn trôn là phần dưới quả thị hơi dẹt, để đứng không nghiêng.

Người con
trai khi xưa “tam thập nhi lập” ba mươi tuổi là đứng vững một mình. Ba việc
quan trọng của anh ta, ba việc khó nhất trong đời người con trai:

Tậu
trâu, cưới vợ, làm nhà

Trong
ba việc ấy lo là khó thay!

Việc tậu trâu
có ảnh hưởng đến nền kinh tế gia đình của anh sau này nên:

Con trâu là đầu
cơ nghiệp.

Chẳng vậy mà
có người cưới được vợ, làm được nhà nhưng suốt đời không tậu được một con trâu
(Con trâu – Trần Tiêu).

Ở những vùng
đất xốp, pha cát, thí dụ một số vùng ở Thanh Hóa, người nhà nông chỉ cần sắm
bò. Nhưng nếu đất sét nhiều, dai, quánh, cứng hoặc có pha sỏi đá thì phải mua
trâu mới chịu nổi vì trâu khỏe hơn bò nhất là những con trâu mộng to lớn dềnh
dàng sức khỏe không thua gì voi.

Muốn tậu
trâu, tậu bò phải học một mớ kinh nghiệm của tiền nhân: Đây là tướng trâu tốt:

Sừng
cánh ná, dạ bình vôi, mắt ốc nhồi.

Mồm
gầu dai, tai lá mít, đít lồng bàn.

Đầu
thanh, cao tiền, thấp hậu. Chẳng tậu thì sao?

Đây là tướng
trâu xấu:

Xa
sừng, mắt lại nhỏ con,

Vụng
đàn, chậm đẽo ai còn nuôi chi!

Chân
to, bàn nặng kéo cày làm sao?

Lại
thêm tiền thấp hậu cao

Đuôi
chùng quá gối đi nào được đâu!

Nhìn dọc con trâu, phía đầu cao,
phía đuôi thấp mới là trâu tốt. Còn trái lại là trâu xấu.

Hàm
nghiến lưỡi đốm hoa cà

Vểnh
sừng, tóc chóp cửa nhà không yên.

Người
nông dân xưa nay chỉ thích trâu đen:

Trâu
trắng đi đâu mất mùa đấy.

Con trâu
trong khỏang từ 4-8 tuổi là sung sức nên được ưa chuộng hơn trâu quá non hoặc
quá già:

Trâu
năm sáu tuổi còn nhanh


năm sáu tuổi đã tranh cõi già

Đồng
chiêm xin chớ nuôi bò

Mùa
đông tháng giá bò dò làm sao?

Đồng chiêm
thường đất xấu, nước phèn, nước lợ rò vào, làm cực mà có ăn ít chứ không như đồng
đất đã thuần. Bò dò là bò dò dẫm bước đi.

Trâu quá sá,
mạ quá thì

Quá sá là quá
tuổi. Mạ quá thì là mạ già quá không cấy được nữa. Nông dân khi ngâm thóc cho nảy
mầm phải ghi nhớ từng ngày. Thóc đã nảy mầm đem ra ruộng gieo vãi. Chỉ dăm ngày
là cây lúa đã hình thành, nông dân đếm từ lúc gieo đến lúc nhổ mạ đem đi cấy là
đúng bao nhiêu ngày, để quá ngày mạ quá thì không cấy được nữa mà phải gieo mẻ
thóc khác. Trước khi cấy cũng cần phải giũ cho sạch đất bám ở gốc mạ và cắt ngọn
mạ, xong mới cấy. Những kinh nghiệm chung để tậu trâu bò:

Trâu hoa tai,
bò gai sừng.

Trâu tóc
chóp, bò mũ mấn.

Ngòai trâu bò, nhà nông cũng nuôi
gà vịt để ăn thịt và chó để giữ nhà. Gà đẻ sai trứng rất được ưa chuộng:

Nuôi gà phải
chọn giống gà

Gà dù bé giống
nhưng mà đẻ sai.

Thứ nhất là
giống gà nâu

Lòng to, thịt
béo về sau đẻ nhiều.

Gà nâu chân
thấp mình to

Đẻ nhiều trứng
lớn con vừa khéo nuôi

Chả nên nuôi
giống pha mùi

Đẻ không được
mấy, con nuôi vụng về.

Nuôi chó để giữ nhà, phòng trộm đạo. Chó giống phải có tiêu chuẩn
sau đây:

Chó khôn tứ
túc huyền đề

Tai thì hơi
cúp, đuôi thì hơi cong

Giống nào mõm
nhọn đít vòng

Ăn càn, cắn bậy
ấy không ra gì.

Về kinh nghiệm chế tạo nông cụ,
người nông dân cũng làm theo ca. Thí dụ: mua hoặc đẽo bắp cày dài 9 gang (mỗi
gang là 20cm) là vừa. Nếu dài đến 10 gang thì tốn sức trâu vô ích vì bắp càng
dài thì lưỡi cày càng ăn sâu xuống đất, trâu khó nhọc mới kéo đi được.

Chín gang trâu cười, mười gang
trâu khóc.

Dân cư ở vùng đồng bằng nước ta
làm nông nghiệp nhưng những vùng ven biển, người dân đa số làm nghề đánh cá.
Ngư phủ phải kinh nghiệm về nước lên, nước ròng để trù liệu chính xác những
chuyến ra khơi hoặc trở về đất liền mà không bị trở ngại.

Tháng giêng
tháng bảy phân minh

Mồng năm, mồng
chín, thìn sinh tị hồi.

Tháng tám cho
lẫn tháng đôi

Mồng ba mười
bảy tị lai, ngọ hòan

Tam cửu tòng
như nguyệt tiền

Ngày hai mươi
chín nước liền thụ thai

Mười ba sinh
con thứ hai

Tuất thăng,
mão giáng chẳng sai chút nào.

Tháng tư đối
với tháng mười.

Sinh con mười
một cùng thời hăm lăm

Tháng một chi
khác tháng năm

Đã tường mồng
chín, chớ nhằm hăm ba

Tháng sáu,
tháng chạp suy ra

Mồng bảy, hăm
mốt ấy là nước sinh.

Tiểu kết

Mặc dù đã cố gắng nhiều trong việc thu thập, phân tích
tài liệu trong Phần I, nhưng do khả năng thực địa còn hạn chế cộng với kiến thức
chưa được chuyên sâu nên vẫn không thể nào tìm tòi và phân tích hết ý nghĩa,
nguồn gốc và ứng dụng của những tài liệu liên quan trong phần nhỏ của tiểu luận
này, nhưng cũng hy vọng nó phần nào đó khái quát chung được những tinh hoa mà
ông cha ta đã đúc kết được từ ngàn đời và truyền cho thế hệ sau qua ca dao, tục
ngữ.

PHẦN II:

“CON TRÂU”

BIỂU TƯỢNG NÔNG NGHIỆP TRONG CA DAO

Lời dẫn

Như chúng
ta đã biết, ẩn sâu trong tâm tâm trí của người việt con trâu không hẳn là loài
vật tâm linh huyền bí như những con vật khác nhưng nó không bao giờ bị loại ra khỏi
tư duy của người việt, đặc biệt trong sự kiện thể thao mang tính chất quốc tế
Seagame 23 tổ chức tại việt nam năm 2003, “Con Trâu” biến hóa trở thành hình tượng
cho tất cả các môn thể thao, quay trở lại với tiểu luận, mặc dù đã được nói nhiều
ở phần I của tiểu luận nhưng với người thực hiện dường như nó vẫn chưa đủ, vì vậy
xin mạn phép đưa “Trâu việt” ra một phần riêng để làm rõ hơn hình tượng con
trâu trong cao dao tục ngữ nước nhà.

Trong lịch sử can chi đã quen dùng ở phương Đông số
thứ tự thứ 2 là Sửu tượng trưng bằng con trâu. Giờ Sửu được tính từ 1 đến 3h
đêm, là thời gian yên tĩnh nhất, mọi người ngủ say, thế nhưng con trâu lại thức
lặng lẽ nhai lại. Tháng Sửu là tháng Chạp, là tháng mà mọi người hân hoan đón
Tết. Trong 12 con vật thời gian, trâu là con vật to nhất, khỏe nhất. Trâu sớm
được thuần hóa, gần gũi với con người, giúp con người trong việc đồng áng nên
người nông dân coi trâu như người bạn thân.Trong ca dao dân ca, trâu được nói
đến nhiều vì trâu đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt ở nông thôn. Từ việc
ví von về tuổi tác đến việc đồng áng, tình yêu nam nữ… đều có mặt trâu. Trâu
gần gũi thân thiết với con người như hình với bóng. Thế nên trong cơ nghiệp nhà
nông con trâu được xếp hạng nhất “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Tuổi
sửu con trâu kềnh càng,

Cày chưa đúng buổi lại mang cày về.Trâu thay sức người
làm công việc đồng áng nên việc mua sắm trâu là việc hệ trọng. Nhà nghèo thường
khó sắm được trâu để làm mùa, phần nhiều là mướn trâu.Tậu trâu, lấy vợ, cất nhà

Trong ba việc ấy thật là khó thay

Từ buổi đầu lịch sử, khi dân ta biết trồng cây lúa
nước con trâu đã là người bạn thân thiết gắn bó với nông dân. Tất cả đều phải
cần cù làm lụng, hỗ trợ cho nhau để có miếng ăn.Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra
ngoài ruộng trâu cày với ta

Cấy cày
vốn nghiệp nông gia

Ta đây
trâu đấy ai mà quản công

Bao giờ
ngọn lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

Đôi khi người nông dân cũng tâm tình thì thầm to nhỏ
cùng trâu như nói chuyện với một đứa trẻ con.Nghé ơi ta bảo nghé này

Nghé ăn
cho béo nghé cày cho sâu

Ở đời khôn khéo chi đâu

Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cầnTuy bận rộn vất vả
trong những ngày mùa nhưng trâu cũng có ngày thong thả đứng bên bờ ruộng ăn cỏ
tươi hoặc nằm trong chuồng nhỏ nhẹ nhấm bó rơm khô. Số phận của con trâu và
người nông dân gắn bó đồng cam cộng khổ.

Rủ nhau đi
cấy đi cày

Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu

Nông dân rất quý con trâu, nó là một phần tài sản của
họ. Nó đã được đưa ra so sánh đánh giá sự giàu nghèo.

Thằng bờm
có cái quạt mo

Phú ông xin đổi ba bò chín trâu

Và hình ảnh thằng Cuội chăn trâu cũng thật thà đáng
thương

Chú Cuội
ngồi gốc cây đa

Để trâu ăn
lúa gọi cha ời ời

Cha còn
cắt cỏ trên trời

Mẹ còn cưỡi ngựa đi chơi cầu vồng

Hình ảnh con trâu cũng được dùng để phê phán những kẻ
lừa đảo chỉ biết vì quyền lợi cá nhân.Lái trâu, lái lợn, lái bò

Trong ba anh ấy chớ nghe anh nào

Hoặc tỏ thái độ mỉa mai, châm biếm Thật thà như thể
lái trâu,

Yêu nhau như thể nàng dâu mẹ chồng.

Ai cũng biết buôn bán thì không thể có sự thật thà,
quan hệ mẹ chồng, nàng dâu cũng rất phức tạp, khó có sự dung hòa được.Lại có
câu ca dành cho người thích lấy vợ dại, ngoan hiền

Vợ dại thì
đẻ con khôn

Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm

Bởi vậy ta nên trở về với cái vốn có không nên quá
mộng tưởng. Cái gì của mình có sẵn quý hơn vì nó là có thực.

Trâu ta ăn
cỏ đồng ta

Tuy rằng cỏ cụt nhưng là cỏ thơm

Và rất nhiều người bằng lòng với cuộc sống hiện tại,
cho như thế là sung sướng hơn người.

Ai bảo
chăn trâu là khổ

Không,
chăn trâu sướng lắm chứ?

Ngồi lưng trâu ta hát nghêu ngao..

Con trâu cũng là đề tài để người ta trêu chọc nhau một
cách tình tứ trong những lúc lao động để quên đi nỗi mệt nhọc, vất vả.

Trâu kia
kén cỏ bờ ao

Anh kia
không vợ đời nào có con

Người ta
có trước có sau

Thân anh
không vợ như cau không buồng

Cau không
buồng như tuồng cau đực

Trai không
vợ cực lắm anh ơi

Người ta
đi đón, về đôi

Thân anh đi lẻ, về loi một mình

Hoặc để
gợi chuyện làm quen nhau:

Hỡi cô cắt
cỏ bên đồng

Nuôi trâu
cho béo làm giàu cho cha

Giàu thì
chia bảy chia ba

Thân em là gái được là bao nhiêu?

Các cô gái
cũng hóm hĩnh, đáo để không kém

Cưới em
tám vạn trâu bò

Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

Đến khi có vợ rồi nên một lòng một dạ không nên bắt
chước những người đi trước năm thê bảy thiếp để rồi gặp phải cảnh.

Ba vợ bảy
nàng hầu

Đêm nằm
chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.

Trâu anh
con cưỡi con dòng

Có con đi trước lòng thòng theo sau.

Và đôi khi là những hình ảnh ẩn dụ về những ngang trái
mà con trâu phải gánh chịu.

Con trâu
có một hàm răng

Ăn cỏ đồng
bằng uống nước bờ ao

Thời sống
mày đã thương tao

Bây giờ
mày chết cầm dao xẻ mày

Thịt mày
tao nấu linh đình

Da mày bịt
trống tụng kinh trong chùa

Sừng mày
tao tiện con cờ

Làm dao, cán mác, lược
dày, lược thưa…

Tiểu kết

Thời gian dần qua đi.
Theo đó, hình ảnh mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu, hát ngêu ngao những bài đồng
dao cũng đã dần mất đi. Thế nhưng hình ảnh làng quê, đồng ruộng, cây lúa, con
trâu vẫn thấm sâu vào tâm hồn người dân Việt.

TÀI LIỆU THAM
KHẢO

Sách tham khảo

Trần ngọc thêm, Cơ sở văn hóa việt nam NXBGD 1999

Mai ngọc chừ Giới
thiệu văn hoá phương Đông
(chủ biên).
Nxb Hà Nội, 966 trang, 2008

Nhiều tác giả, tuyển tập ca dao tục ngữ việt
nam

Gs xuân vũ Trần Đình Ngọc, đôi dòng về tục
ngữ cao dao, và một số công trình nghiên cứu khác

Danh sách website

Các thể loại ca dao tục ngữ

http://vi.wikiquote.org/wiki/Th%E1%BB%83_lo%E1%BA%A1i:Ca_dao_t%E1%BB%A5c_ng%E1%BB%AF_Vi%E1%BB%87t_Nam

Ca Dao Tục Ngữ Với Khoa Học Nông Nghiệp

http://openlibrary.org/works/OL951004W/Ca_dao_tu%CC%A3c_ng%C6%B0%CC%83_v%C6%A1%CC%81i_khoa_ho%CC%A3c_no%CC%82ng_nghie%CC%A3%CC%82p

Chuyện Nhà Nông Qua Ca Dao Tục Ngữ

http://www.tuoitredatquang.com/f/loai-khac/57236-chuyen-nha-nong-qua-ca-dao-tuc-ngu.html

Văn Hóa Nông Nghiêp Qua Ca Dao Tục Ngữ

http://dienchau2.org/showthread.php?t=514

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: